1416 – KỂ CHUYỆN TÂM LINH KỲ BÍ QUANH NGHÈ VƯỜNG II

Xuất bản vào 21:21:38 07/01/2019


Phần II. Những mẫu chuyện tâm linh kỳ bí, khó lý giải liên quan đến nghè Vường
 
2. Trịnh Dần Khi Dễ Bị Mẫu Hành
 
Chuyện tôi kể dưới đây là câu chuyện mà theo cam kết của bà cố Hà là hoàn toàn có thật, thật trăm phần trăm. Theo bà cố Hà, chuyện xảy ra cũng đã lâu rồi, lâu lắm rồi, từ những năm đầu thập niên bốn mươi của thế kỷ trước.
 
Xin nói qua về bà cố nhà tôi tí. Bà cố Hà khi chưa lấy ông Hà (ông Hà là anh của ông Ngoại tôi. Quê tôi trước kia có tục lệ kiêng gọi tên húy của các cụ nên thường lấy tên của con để gọi cho cả vợ lẫn chồng. Ví dụ như gọi ông Hà, bà Hà là vì ông bà là người đã sinh ra cậu tôi, cậu Hà) nhà bà nghèo lắm. Đất Quảng Xương quê bà do gần biển nên không được màu mỡ như đất các nơi, bởi vậy dân thường đói ăn. Ngày xưa, do đói kém nên trẻ không được học hành như bây giờ, bởi vậy ngay từ lúc bảy tám tuổi, bà đã đi ở đợ, cấy thuê, cuốc mướn cho các nhà giàu có khắp các vùng quê. Bà gặp và lấy ông cố Hà (đáng ra tôi chỉ gọi là ông Hà thôi vì ông cùng vai với ông Ngoại tôi nhưng do tập tục, lại quen mồm nên tôi gọi ông cố Hà, bà cố Hà ấy cũng chính là gọi thay cho con tôi) cũng là do duyên. Theo bà, ông tôi lúc còn trẻ trông không chỉ lực lưỡng mà còn cực đẹp trai, nước da cứ gọi là đen bóng nhẫy. Cũng theo bà, bấy giờ do đói khổ nên thiên hạ ai cũng trọng miếng ăn chứ chẳng ai trọng hình thức. Tuýp dzai mà con gái thời bấy giờ yêu thích là ngoài đẹp trai thì nước ra phải đen cháy, tay chân chai sần chứ loại da trắng thư sinh thì được coi là thứ người lười biếng, ăn bám… nên ngữ người ấy, chẳng ai coi trọng. Bà cố Hà tôi bảo: “tao chết đứ đừ, chết mê, chết mẩn ngay từ cái nhìn đầu tiên của một đồng nghiệp, ông mày”. Nghe bà nói, tôi cười đến phọt nước miếng nhưng nghĩ lại thấy cũng đúng. Vì đói nghèo nên ông tôi cũng hành tẩu giang hồ, cày thuê, cuốc mướn và vô tình trở thành đồng nghiệp với bà. Gió mây hội tụ, trâu với chim sẻ gặp nhau (ngưu tước hội hợp), vậy là bén duyên. Bà theo ông về, được cha mẹ chia cho miếng đất dựng nhà ở ngay sau lưng nhà tôi, hai ông bà trở thành một cặp “chồng cày vợ cấy” đúng nghĩa. Do trước lúc về ở hẳn bên chồng, bà có thời gian đi làm thuê cuốc mướn nay đây, mai đó đến cả hai mươi mấy năm nên biết nhiều chuyện. Mà lạ cái, chuyện của bà không những nhiều mà chuyện nào cũng thế, từ chuyện xưa tích cũ đến chuyện ma mị v.v. với tôi là vô cùng ly kỳ, huyền bí. Có sức lôi cuốn, hấp dẫn đến lạ và chúng luôn nằm tại một vị trí quan trọng trong miền ký ức của tôi.
 
Nhớ một bận, vào một đêm trăng sáng bà sang nhà giúp cha mẹ tôi đánh gianh (tranh) để lợp nhà. Theo đề nghị, bà đã kể cho tôi nghe một câu chuyện ma mị có liên quan đến dòng họ Thiều. Chuyện bà kể đã lâu và người kể chết cách nay cũng đến ba mươi năm nhưng cho đến tận ngày nay, tôi vẫn nhớ đến từng chi tiết. Nay xin kể lại hầu góp vui cùng thảy tất cả nhà.
 
Xưa kia… Giống như mọi lần, mỗi khi vào chuyện bà thường nói hai chữ “xưa kia” xong thì dừng lại. Tôi đoán bà ngừng lại hẳn là muốn mọi người yên lặng, hoặc cố tình kích thích tính tò mò của mọi người. Bà tiếp – bà từng có thời gian làm thuê cho một nhà giàu bên Yên Định và trở thành người chứng kiến một chuyện liên quan đến cụ tiên tổ nhà mày (tức nhà họ Thiều_TNS) – vừa đập đập cái hom gianh vừa thong thả bà kể – Thời ấy bên An Ðịnh (huyện Yên Ðịnh, Thanh Hóa bây giờ) có Trịnh Dần là con Phú hào Trịnh Long, Dần tuổi còn rất trẻ nhưng vì là con độc đinh nên Dần rất ngỗ ngược. Không chỉ đối xử tệ với kẻ ăn người ở trong nhà mà Dần còn rất hỗn láo ngay cả với cha mẹ mình. Ỷ thế con một lại cậy có tiền nhiều nên Dần vung tiền kết giao, mua chuộc đám vô lại suốt ngày tụ tập cờ bạc, rượu chè và làm nhiều điều xằng bậy, ức hiếp con em khắp trong vùng.
 
Một bữa vào ngày mùng 6 tết âm lịch, Trịnh Dần kêu gia nô chuẩn bị xe ngựa rồi cùng đám vô lại ruổi rong đi hội chợ Chuộng (còn gọi là chợ ném rủi rước hên, chợ nằm ở xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn) ru xuân, chòng ghẹo gái. Tan hội cũng là lúc chiều tà, Dần cùng đám vô lại lên xe ra về. Chợt trong đám tùy tùng có kẻ nói:
 
– Nghe nói bên Kẻ Chiểu, có ngôi nghè rất thiêng…
– Thiêng như nào ? Mọi người nhao nhao hỏi.
– Ai đi qua cũng phải xuống ngựa, ngả nón mũ để chào. Nếu không làm thế, về nhà thể nào cũng bị thần linh hành cho ốm đau dặt dẹo…
Vừa nghe đến đây, Dần liền gạt phắt bảo:
– Làm gì có cái chuyện quái gở, lạ đời đó.
– Đấy là nghè Vường – kẻ đánh xe ngựa đế vào – Bẩm cậu ! Tôi theo hầu cụ nhà nhiều năm, đi nhiều nơi nên nghe nhiều người nói về ngôi nghè ấy. Đúng là rất linh thiêng ạ.
Nghe người đánh xe xác nhận, Dần liền hỏi:
– Nghè ấy cách đây bao xa?
– Cũng không xa lắm, trên đường về rẽ xuống một tí ạ.
– Đánh xe đi về đấy xem sao ! Dần ra lệnh.
Vậy là người đánh xe gò cương, rẽ xuống Kẻ Chiểu. Khi đến nơi, thấy nghè chỉ là ngôi nhà gỗ cũ kỹ thấp bé ba gian, phía trước nghè có hai cây duối (xứ Thanh gọi là dưới)… Dần ngồi trên xe quan sát, sau ít phút thì xuống xe tiến lại phía nghè. Không những không bỏ mũ mà Dần còn lớn tiếng cười cợt chế nhạo.
– Như này mà cũng gọi là nghè ư, linh thiêng ư ? Để xem…
Nói rồi Dần tiến lại gốc cây duối ngay cổng nghè, vạch quần đứng đái khiến bọn đi cùng một phen hoảng sợ.
– Cậu ! gã lái xe trợn mắt – Cậu… sao làm thế !
– Làm thế thì sao ? Sợ quái gì chứ.
– Cậu làm thế con chỉ e… người đánh xe lắp bắp – thần linh quở trách.
– Trách gì, trách gì cứ trách lão Trịnh gia gia đây ! Dần bạo mồm – các ngươi không phải sợ !
 
Nói xong thì lệnh cho cả bọn lên xe đi về. Dọc đường, Dần lớn tiếng giảng về đạo thần linh rằng: “Thần linh chỉ là chuyện hão, thế gian đặt ra để hù dọa đám trẻ con, những kẻ yếu bóng vía chứ trên đời này làm gì có thần linh”.

Nghè Vường, nơi thờ tổ mẫu dòng họ Thiều, bà Nguyễn Thị Ngọc Nga

 
Suốt đoạn đường về, bình an vô sự nhưng khi xe vừa dừng trước lối cửa cổng vô nhà thì xảy ra chuyện. Lũ chó nhà xưa nay vẫn rất hiền lành với chủ bỗng dưng nhào vào Dần sủa ăng ẳng. Chúng vừa nhe răng gầm gừ vừa chạy giật lùi trong khi đó, phía trong nhà gà lợn không dưng tháo chuồng bỏ chạy tán tác. Vô đến nhà, Dần bỗng dưng mồm hét toáng “Mày phải chết” hét xong thì mắt trợn ngược, mồm miệng sùi bọt, tay liên tục cào cấu hạ bộ, lúc lại vả vào mặt đến tóe máu khiến Trịnh lão gia cùng đám gia nhân, thảy tất không hiểu chuyện gì đã xảy ra.
 
Cả đêm hôm ấy, Dần liên mồm gào thét “Mày phải chết ! Mày phải chết !” trong khi người quằn quại lăn hết bên này sang bên kia. Sáng ra, mọi người hoảng hốt khi thấy Dần nằm thở thều thào, hạ bộ sưng tấy, to như bắp chuối, trên người nổi đầy lằn đỏ nom như người bị phạt đòn roi vọt.
 
Liên tục trong mấy ngày, hễ đêm xuống, Dần như một người khác, liên tục gào thét, cào cấu bộ hạ, tự vả vào miệng… Hành động kỳ quặc của Dần chỉ chấm dứt khi bình minh ló rạng. Chỉ mấy ngày, từ một thanh niên khỏe mạnh, Dần giờ như bộ xương, nằm thoi thóp thở hỏi thì như người mắc chứng á khẩu, muốn nói mà không nói được.
 
Nhìn đứa con trai duy nhất không dưng trở bệnh điên khùng, Trịnh Long lo lắng cho mời thầy lang đến bắt mạch đoán bệnh nhưng các thầy đều chịu, không đoán ra chứng gì. Có thầy đoán chứng quỷ ám tà nhập và nói cha mẹ Dần nên cho người đi mời thầy pháp về cúng, trừ tà. Có ông thầy pháp đến, vừa nhác thấy Dần, mặt mày đã xanh mét, vội giật lùi đi ra. Hỏi thì thầy pháp nói vong này lớn lắm, không dám trục. Nóí xong, đi thẳng ra cửa mà về.
 
Trước cũng nghĩ Dần trúng phong, nên dẫn tới việc sốt mà mê sảng, sau cũng nghi Dần hỗn láo, mạo phạm thần thánh nhưng không nghĩ lại đến độ trầm trọng như vậy. Khi nghe thầy pháp nói “vong” lớn, cha mẹ Dần vội truy hỏi đám đầy tớ theo hầu. Nghe chúng thuật lại, biết Dần đắc tội lớn vì nghè Vường là nơi thờ tổ mẫu dòng họ Thiều… bèn đem gà, lợn ra nghè tạ tội nhưng gieo quẻ thì không được chấp thuận. Có người mách “Nghè Tam tổng trong thôn Triệu Tiền là nơi thờ đức ông Thiều Thốn và công chúa Trần Ngọc Chiêu. Đức Thiều Thốn khi tại thế là người đức độ, khoan nhân, ngài cứ đem lễ sang đó thực tình cầu khẩn chắc ngài cũng không nỡ trách”. Thế nhưng giống như ở nghè Vường, dù lễ hậu nhưng khi gieo quẻ, cách gì cũng chỉ là hai đồng tiền hoặc sấp cả, hoặc ngửa cả… Trịnh Long biết đức ông Thiều Thốn cũng không tha, cả chi tộc họ Trịnh như nằm trên đống lửa.
 
Mẹ Trịnh Dần nghe nói đền Đồng Cổ nơi phụng thờ thần Trống đồng bên Yên Thọ linh thiêng bèn lệnh đám gia nhân đặt Dần lên xe chở đến đền Đồng Cổ cầu cứu nhưng bà đồng ở đền Đồng Cổ vừa nhìn thấy Dần đã phán: “Tội lỗi, tội lỗi”. Theo bà đồng, người theo trách mắng Dần là một người có lối ăn vận theo lối nhà quan xưa đồng thời từ chối nói “Sức của tôi không thể hóa giải được”. Họ Trịnh năn nỉ mãi, bà đồng ngúng nguẩy nói:
 
– Thấy chết không cứu thì rõ là không phải cái đạo của người xưa nhưng nếu cứu thì đến cái mạng già này cũng khó giữ – bà đồng nhìn Trịnh Dần ngao ngán rồi giở tay lên bấm bấm – mạng của nó không sống quá bảy ba… hai mốt ngày đâu trừ phi…
Đương nói, không dưng bà đồng vội ngừng lời. Mẹ Trịnh Dần quýnh quáng hỏi:
– Trừ phi sao ạ ?
– Thôi thế này – bà đồng vời mẹ Dần ngồi sát lại rồi ghé tai nói nhỏ điều gì đó – Tôi chỉ giúp ông bà được đến đây thôi, không dám lạm quyền mong ông bà thông cảm.
 
Chỉ thấy mẹ Trịnh Dần xụp xuống lạy ba lạy, nói:
– Trịnh gia chúng tôi suốt đời tạc ghi công cứu mạng của bà.
– Nhanh về đi ! Về làm đúng những gì tôi nói may ra mới cứu được mạng của nó – bà đồng giục – Nói lộ bấy nhiêu đấy nhưng cũng đủ giảm hai năm tuổi thọ của tôi rồi đấy.
 
Cùng lúc ấy, cha Trịnh Dần đang ngồi rầu rĩ bên bàn nước ở nhà, bỗng thiu thiu chợp mắt. Trong lúc mê mê sảng sảng ông thấy có một chàng trai mặt mũi khôi ngô hùng vĩ, ăn vận như một võ quan từ ngõ đi vào nhà. Đến giữa nhà, trang thanh niên nhìn quanh khắp lượt xong chỉ tay vào mặt Trịnh Long rồi lớn tiếng trách mắng Long nuông chiều để con cái hư hỏng. Trịnh Long nhìn chàng trai ăn mặc theo lối võ quan thấy rất quen nhưng nhất thời không nhớ là ai, gặp ở đâu, bèn thi lễ hỏi: “Dạ bẩm ! Tôi hỏi khí không phải, xin lỗi các hạ là ai ?” Thanh niên cười lớn, nói “Tao là Đoan Nam Vương, ông tổ nhà mày đây !” Trịnh Long nghe chàng trai trẻ xưng danh, lại thấy trên cổ có cái vết thẹo nhìn như vết dao đâm đoán đúng là chúa Trịnh Khải chứ không phải ai khác. Nguyên trước kia, lúc chúa Trịnh đánh không lại quân Tây Sơn mới bỏ kinh thành chạy lánh nạn đến xã Hạ Lôi, huyện Yên Lãng. Bấy giờ quân sĩ tan tác hết, chúa bèn đến nương nhờ viên tiến sĩ trước kia giữ việc ở Lại phiên là Lý Trần Quán. Lý Trần Quán trước đây vâng mệnh chúa đem tờ hịch đi chiêu mộ nghĩa binh để chống lại Tây Sơn khi chúa đến nương nhờ thì Quán nói dối với học trò là Nguyễn Trang rắng: “Có quan tham tụng Kế Liệt hầu tránh loạn đến đây, muốn phiền anh hộ tống ra khỏi địa phận. Nguyễn Trang xem thái độ của thầy thì biết người đó là chúa Trịnh, bèn cùng đồ đảng là Nguyễn Ba bắt giải nộp doanh trại Tây Sơn. Lý Trần Quán được tin, vội vàng chạy đến, vừa lạy vừa khóc, nói:
– Làm lầm lỗi chúa đến thế này là tội ở tôi.
Lại nói với Nguyễn Trang:
– Chúa là chúa chung khắp thiên hạ, mà tao lại là thầy mày. Nghĩa cả vua tôi là trọng, sao mày dám làm việc đó?
Nguyễn Trang đáp:
– Quan lớn để tôi ra mắt chúa. Chúa sống ở tay tôi, rồi quân Nam đến hỏi tội thì quan lớn có cãi hộ được chăng. Sợ thầy không bằng sợ giặc, quý chúa không bằng quý mình.
Trần Quán quay sang nói với chúa:
– Trời ơi, tôi giết chúa rồi, trời có thấu không?
Chúa bảo:
– Tấm lòng trung nghĩa của khanh quả nhân biết rồi; không cần phải tự oán nữa.
Nguyễn Trang cho người áp giải chúa nộp cho Tây Sơn. Trên đường bị áp giải dừng lại ở quán nước, Đoan Nam Vương vớ con dao trên bàn đâm vào cổ tự vẫn. Dao vừa đâm vào cổ, vết thương chưa sâu, người áp giải vội giằng lấy con dao, chúa bèn lấy ngón tay chọc vào cổ, xé vết thương rộng ra khiếm máu chảy lênh láng. Sau khi chết, chúa được Nguyễn Huệ khâm liệm tống táng chu đáo. Năm đó Đoan Nam vương 24 tuổi, ở ngôi chúa được 4 năm.
 
Lại nói Trịnh Long thấy trang tuấn kiệt kia đúng là Đoan Nam Vương Trịnh Khải bèn xụp lạy khẩn cầu: “Xin tổ tiên cứu vớt chúng con !” Chúa Trịnh Khải bảo: “Cái thằng trẻ ranh Trịnh Dần con mày gây họa lớn rồi ! Họa vô tự nối dõi tông đường chứ chẳng chơi đâu !” Trịnh Long nghe nói không có người nối dõi thì quýnh quáng cầu xin cứu giải. Trịnh Khải mách: “Thiều Thốn là con rể vua Trần là người thuộc tiên triều, đã thế ông lại còn là tướng quân… ta thân dẫu là chúa nhưng xét tuổi tác chỉ vào bậc chút chít của cụ thì nói thế nào cho được”. Trịnh Long nghe vậy, nước mắt lả chả khóc nói “Đến chúa còn không xin được thì con còn biết cậy vào ai ?”. Chúa thấy Trịnh Long vì con mà vật vã bèn mách: “Ngươi mau sắm lễ, cử người tức tốc mang ra đền Cố Trạch cầu Đức Thánh Trần thì việc ắt xong – lại sợ Trịnh Long không tin, Trịnh Khải nói – Thiều Thốn là lính của Đức Thánh Trần, Đức Thánh Trần có lệnh thì ông ấy ắt phải tuân mệnh”. Trịnh Long nghe thế thì mừng rỡ, xụp xuống dập đầu cảm tạ, chừng ngẩng lên thì không thấy trang tuấn kiệt kia đâu. Biết được tổ tiên phù hộ, vội sai gia nô chuẩn bị lễ vật để ra Nam Hà cầu khẩn.
 
Khi đoàn người mang lễ vừa đến cổng, đã thấy thủ từ đền đứng đợi nói: “Sao ra muộn thế, nhanh lên kẻo muộn !” Mọi người hết sức ngạc nhiên thì thủ từ nói “Tối qua lão nằm mộng thấy Đức Thánh nói có người nhà Chúa đến cầu xin cho con cháu nhà ngươi, Đức Thánh cũng đã đồng ý rồi, mau vào tạ lễ rồi về kẻo không kịp !”. Trịnh Long vào quỳ mọp, khấu đầu tạ tội thay cho con. Khi gieo quẻ, cả ba lần đều được cả. Ngay trong đêm, Trịnh Long cùng thủ từ nhanh chóng quay ngựa trở về xứ Thanh.
 
Lại nói chuyện Trịnh Dần nằm ở nhà chờ tin người ra Nam Hà cầu khẩn đức Thánh Trần. Sức khỏe ngày càng yếu, ban ngày thường chỉ nằm thở thều thào, khi mê khi tỉnh thế nhưng, hễ lúc mặt trời lặn thì Dần mặt mày xanh lét, thường ngồi co rúm trong xó góc giường, lấy tay che mặt, miệng không ngớt kêu van “Xin hãy tha cho con ! Xin hãy tha cho con !” kêu xong thì nằm vật ra như người chết. Lát sau vùng dậy rồi không ngừng quằn quại, la khóc suốt đêm. Sáng sớm kiểm tra, lại thấy người đầy vết thương mới. Ban ngày, lúc tỉnh Dần thều thào kể đêm nào cũng vậy, hễ giờ Tuất (đây là lúc giao thời, âm trưởng dương suy) là có hai người mặc sắc phục nha lại xưa hông đeo đao kiếm, mặt mũi dữ tợn cùng toán lính đến tận giường bắt Dần và dẫn đến một nơi xa lắm, ở đó có một dinh thự trên cổng có tấm biển đề năm đại tự bằng chữ Hán, do không biết chữ nên Dần cũng không biết là phủ gì chỉ biết có nhóm lính chống giáo đứng gác ngoài cổng. Vào sâu bên trong thấy toàn kỳ hoa dị thảo, ở giữa là ngôi chánh điện dưới các cột hiên có treo các lồng đèn… Dần bị dẫn vào một cái nhà ngang nằm bên trái chánh điện. Bị trói bắt nằm sấp xuống nền nhà và bị hai người lính thay nhau dùng gậy với roi đánh đập, tra khảo, mắng nhiếc vì can tội hỗn láo. Việc đánh đập chỉ ngưng vào cuối canh tư khi trời chuyển sáng.
 
Tính từ ngày Trịnh Long phát bệnh đến lúc đoàn đi lễ cầu xin ở đền Trần về đến nhà vừa tròn hai mươi ngày. Sau khi bầy hương án, thủ từ đền Trần trịnh trọng cáo lễ thì bệnh của Trịnh Dần càng lúc càng thuyên giảm. Hết ngày thứ hai mốt, sang sáng ngày hai mươi hai, toàn bộ các vết thương trên người Trịnh Dần bỗng biến mất, Dần đã có thể ăn uống và đi lại bình thường.
 
Thấy con khỏi bệnh, Trịnh Long sai người đem lễ đến đền Đồng Cổ tạ ân. Đến nơi, được thủ đền cho biết từ hôm tiễn mẹ của Trịnh Dần về, bà đồng bỗng dưng lăn ra ốm một trận thập tử nhất sinh, khi khỏi bệnh phát hiện thấy giữa chán có vết chàm đỏ nhìn y như bị ngón tay trỏ của ai đó điểm chỉ vào. Đã tìm đủ cách tẩy rửa nhưng vết đỏ ấy không chỉ không mất mà càng lúc càng đỏ thêm.
 
Toàn bộ câu chuyện liên quan đến nghè Vường mà bà Hà kể cho tôi nghe lúc nhỏ đến đây là hết rồi. Xin chào và hẹn gặp lại !
 
Tp.HCM, đêm ngày 07.01.2019
Thiều Ngọc Sơn.
——————–
Đền Trần hay còn gọi là Trần Miếu (陳廟) là quần thể di tích lịch sử – văn hóa, nơi thờ 14 vị vua Trần và thờ Hưng Đạo Đại Vương. Quần thể này gồm đền Thiên Trường (thờ bài vị của 14 vị vua Trần, được khởi dựng từ thời Hậu Lê) và đền Cố Trạch (Cố Trạch nghĩa là đền được xây trên nhà cũ của Trần Hưng Đạo. Đền được dựng vào thời Nguyễn, năm 1894) và đền Trùng Hoa (đền Trùng Hoa có 14 pho tượng bằng đồng của 14 hoàng đế nhà Trần đặt tại tòa trung đường và tòa chính tẩm). Vị trí của đền nằm ở thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, phủ Thiên Trường, ngoại thành Nam Định. Đây là mảnh đất dấy nghiệp, là quê hương của Vương triều Trần.

 

 




Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM