1750 – THIỀU TỘC TRƯỜNG THI – NGUỒN GỐC HỌ THIỀU

Xuất bản vào 11:39:51 22/11/2019


(韶族的原源)

Di tượng đức đệ tam tổ Thiều Thốn và công chúa Ngọc Hải

PHẦN THỨ I: NGUỒN GỐC

I. Nguồn gốc họ Thiều ở Trung Quốc

Họ Thiều gốc, từ bên Trung Quốc
Nguyên triều hưng (1), ngại “chuốc” trái ngang
Mới đành, bỏ đất mộc thang (2)
Tha hương lánh nạn, dời sang… nước mình !

Nay lược quá, sự tình nguyên ủy (3)
Đem trình bày, “hữu thủy hữu chung (4)”
Chỗ nào, giọng kể “mông lung”
Những mong lượng thứ, bổ xung đủ đầy !

Trăng còn lúc, náu mây rình rập
Ánh dương tàn, tối sập mới ngoi
Cả nhà, cứ nghĩ rồi soi
Trời trăng còn lúc, “hẹp hòi” phải nao (?!)

“Khiếm khuyết” hẳn, không sao tránh khỏi
Bởi thân này, có giỏi giang chi
Chỉ là, thấy sử sách ghi
Cháu con vô hỏi, vậy thì… chủ biên.

Trước giải thích, tổ tiên nguồn gốc
Thứ liệt kê, Thiều Tộc hiền nhân…
Chủ trương, kể thực – tả chân
Có răng viết vậy, chẳng phần… chước chiêu.

Sử sách chép, họ Thiều giản mộc
Xuất sinh từ, thị tộc Hữu Ngu (5)
Tộc người, có trước vua Chu
Vũ Vương – Cơ Phát, ngàn thu… ít gì (6)!

Trọng Hoa (7) cứ, mỗi khi “bình” tặc
Thường đắp đàn, “xã tắc” tế thiên
Nghiêu cho “Trọng” quả sĩ hiền
Trải bao thử thách, Nghiêu liền… truyền ngôi.

Sau “thiện nhượng” (8), vua tôi nỗ lực
Đuổi Hung Nô, Tây Vực, phiên bang
“Thái bình thịnh trị”, nối hàng
Tục kêu Ngũ Đế (9), sử vàng tạc ghi.

Thuấn nhân nghĩ, mỗi khi thắng giặc
Thường trước đàn, xã tắc tạ ân
LỄ thành, hiếu kính, thập phần
Mà không tiếng NHẠC, bần thần… chẳng an.

Nghĩ vậy mới, lệnh ban…. tác khúc
Dành tế thiên, ca lúc khải hoàn (10)???
Bấy chừ, có vị võ quan
Thân mang trường kiếm, hỷ hoan bẩm rằng:

Thần nghe kể, bữa trăng vằng vặc
Phục Hy (11) trông, ngũ sắc sao trời
Chẳng người “hái” bỗng, tự rơi
Vội tìm, chỗ rụng, chính thời, cây ngô (12).

“Ngũ huyền” (13) gảy, hoành đồ (14) đại triển
Năm châu an, bốn biển thái bình
Thuấn kêu: Nghe hữu lý kinh
Ái khanh, viết giúp, triều đình… khúc ca !

Vị quan nọ, dành ba bữa “trước” (15)
Khúc nhạc ngân, mây nước trong thanh
Phụng hoàng, công, trĩ, yến, oanh
Báo rừng, hổ núi, nằm khoanh… nghe đàn.

Vua hậu thưởng, xong ban: Chỉ dụ
Bảo nhạc này, hội tụ, khí thiêng
Trống chiêng, phối lẫn dành riêng
Tế thiên địa với hồn thiêng… quê nhà.

Sau được biết, quan gia cảm tác
Khúc nhạc nghe, tuyệt trác danh THIỀU
Thuấn nhân, vì nhẽ mến yêu
Sắc kêu khúc nhạc, tên THIỀU (shao – 韶)… nguồn cơn.

Sử ghi Thuấn, du sơn ngoạn thủy
Rất nhiều nơi, không chỉ Quảng Đông (16)
Lần nao, cũng vậy, Thiều công
Giúp vua, tấu khúc nhạc lòng… tế thiên.

Xuân Thu đức, thánh hiền Khổng Tử
Từng nghe người, Tề cử nhạc Thiều
Khổng Khâu, khen quá mĩ miều
Học đàn, cá, thịt, trăm chiều, lãng quên (17).

“Bách gia tính”, sách bên Tàu viết
Dòng họ Thiều, cư tít Thái Nguyên
Liệt kê thứ vị xong tuyên:
Đứng hai trăm sáu (260), thế truyền… đến nay (18).

II. Nguồn gốc họ Thiều ở Việt Nam

Sử sách đã, giải bày – Thiều tộc
Tại Trung Hoa, nguồn gốc hữu hai (19)
Vậy nên, ai có, dông dài
Chung quy chỉ một, cội lài… rất thơm.

Xưa còn sống, Mẹ Tơm (20) vẫn nhắc
Người xứ Thanh, son sắc thủy chung
Dặn con: Tố Hữu nhớ dùng
Thi tài, ngợi cảnh, kiêu hùng… xứ Thanh.

Nói: Xứ ấy, đất lành chim đậu
Chẳng chúa vua, cũng “cậu” xuất sinh…
Nhắc sơ thấy Tổ họ mình
Chọn nơi đắc địa, tài kinh… phải nào.

Gia phổ viết, ước vào Tống mạt
Ngán nỗi triều, vua nhát, thần mê
Địch quân, truy kích tứ bề (21)
Có trang tuấn kiệt, trốn về… Lĩnh Nam (22).

Thề sống kiếp, lũ lam cùng khốn
Hơn hoàng bào, trong chốn triều ca
Thân vùi, bão tuyết, mưa sa
Vẫn hơn đội giặc, như cha trên đầu (23).

 

Đền thờ Tướng công Thiều Thốn (xã Đông Tiến – Đông Sơn – Thanh Hóa)

Dời đất mẹ, Thiều Châu (24) yêu dấu
Bỏ trăng côi, đụn trấu vữa nhen
Cố quê dải lụa tòa sen
Lòng u, dạ uất, phẫn chen… rối bời !

Có câu: “Quốc, vong thời… nhà nát”
Chính là câu, trẻ hát “đồng dao”
Ngờ đâu, khúc nhạc ngày nao
Bỗng dưng nay lại, ứng vào… “tệ” bang !

Lòng những tưởng, thân mang tài trí
Đuổi Nguyên Mông, thực chỉ gang tày
Đâu ngờ, vận nước, cam gay
“Phản Nguyên – phục Tống”, đường đầy… viễn vông.

Gạt dòng lệ, ngoảnh trông núi Hỗ (25)
Áo cha già, lỗ chỗ nắng xuyên
Mù giăng, bịt lối, nhà Huyên (26)
Chợt thương cảm tiếng, Đỗ Quyên đêm hè (27).

Trang tuấn kiệt, cay xè nước mắt
Lạy từ quê, dẫn dắt vợ con….
Cứ theo, đường nhỏ, lối mòn
Đêm đi ngày nghỉ, thân hon hắt gầy.

Trước phòng giặc, đêm ngày truy đuổi
Sau phòng gian, thành “ruổi”… khắp nơi
Một hôm, khi tối xẩm trời
Vừa ra, khỏi quán, trọ thời, chẳng may…

Quân Mông Cổ, chắn ngay đầu ngõ
Mắt trợn trừng, lộ rõ hung quang
Kiếm đao, tuốt sẵn, sáng choang
Toàn gia tứ khẩu, vỡ toang… mộng trần.

Trước thế giặc, thập phần hung dữ
Tráng sĩ Thiều, nửa chữ chẳng kinh
Ái thê ! Tiên tổ hiển linh
Xin nàng chớ sợ, để mình ta lo !

Ta đủ sức, dạy cho lũ khốn
Nàng dẫn con, tạm trốn vào trong
Dặn dò thê tử, vừa xong
Ngoảnh qua giặc quát: Lũ ông muốn gì !

Đầu đảng giặc, chưa chi vung chưởng
Kèm bảy quyền, những tưởng “tranh tiên”
Ngờ đâu, khách mặt, rõ hiền
Sử chiêu “tiên thoái”, chưởng quyền… hóa không.

Giặc chúng thấy, mặt “hồng” thủ lĩnh
Sử đến chiêu, “Cử đỉnh tế thiên”
Chàng kia, mặt vẫn như tiền
Chẳng chi chút muộn, chút phiền… mới hay.

Cả đám giặc giở tay lên vỗ
Bỗng nghe câu: Ối khổ, chết ta !
Thấy như vạn ánh sao sà
Thằng đầu đảng giặc, lăn ra… chết liền !

Hơn chục đứa, sau phen hốt hoảng
Tút gươm, đao “loảng xoảng” cùng vung
Thiều gia hiệp lữ (侠旅), thung dung
Sử chiêu, “Mộng nhập Hán Trung” (30) truy lùng.

Chàng dụng chưởng, vô cùng mau lẹ
Chút lại nghe: Ối mẹ cha ôi !
Ngó sơ thời thấy thôi thôi
Đứa què kẻ cụt, máu trôi thành dòng.

Cả đám giặc, tâm trong, thầm nghĩ
Cứ kiểu ni, mạng chỉ tí vong
Bỗng dưng, thảy tất đồng lòng
Bỏ buông gươm giáo, cầu mong… niệm tình.

Chàng bản nghĩ, điêu linh thống khổ
Thảy nguồn cơn, từ chỗ Mông quân
Nhất thời “Nộ phát xung quan” (31)
Định đem giết sạch, chẳng khoan, dung tình.

Bỗng tiếng vợ: Hiếu sinh làm trọng !
Từ bên trong, vang vọng sát tai
Địch nhân, nghe tiếng thở dài
Biết ngay, phận số tuyền đài, chửa thâu.

Vội đồng loạt, khấu đầu cảm tạ
Tứ lạy xong, tất tả “chuồn” mau
Kim Tinh miệng lẩm nhẩm câu
“Nhân sinh hữu mệnh” có cầu tất linh (32).

Xuyên suốt cả, quá trình trốn chạy
Bắt “truy binh” (33) quỳ lạy mấy lần
Kỳ dư, mấy chuyện, tham sân
Tựa như gãi ngứa, đâu cần kể đây !

Dưới kể chuyện, Sơn Tây ngộ “phỉ” (34)
Ngộ lũ người, vô sỉ bất lương
Lũ ăn, quậy phá, thôn hương
Hoại băng hết nhẽ, luân thường bấy nay.

Chuyện xảy bữa, giáp ngày cận tết
Nhìn hai con, lê lết thảm thương
Trong người, bạc hết, cạn lương
Phu nhân toan tính, cùng đường… bán trâm.

“Cây trâm” bán, chỉ tầm năm bạc
Của hồi môn, Mẫu “hạc” trước trao
Mà nay, nhi nữ lòng nao…
Chỉ nhiêu ngợi nghĩ, ngán ngao sự đời.

Mua mấy thứ, xong rời phố núi
Thiều phu nhân, lầm lũi bước đi
Đến bên khe núi tức thì
Bỗng nghe pháo nổ, ngựa phi, chặn đường.

Năm Hán tử, phi thường dữ tợn
Xách trường mâu (35), mắt trợn quát to:
Qua sông ắt phải lụy đò
Bạc vàng trút bỏ, ta cho ngươi về !

Nhìn khắp chốn, sơn khê lặng ngắt
Ngó tà dương, dần tắt… trên đồi
Lòng thầm kêu: Khổ, chồng ôi !
Miếng cơm con trẻ, nhẽ trôi… họng người.

Bước lên trước, tươi cười nàng nói:
Tiện nữ… nhân, con đói, đòi ăn
Phu quân, tại núi đi săn
Đại nhân, thỉnh thấu nhọc nhằn tiểu nhân !

Nhìn nhan sắc, vạn phần rực rỡ
Phục trang như, người ở cung tiên
Lãng quên, vòi vĩnh, bạc tiền
Phỉ xông vào bắt, nàng liền: Dừng tay !

Tiện nữ có, câu này kính bảo
Chớ giở trò, bất hảo ban ngày
Phu quân, tiện thiếp, nhược hay
Bấy chừ có kẻ, cụt tay, mất đầu !

Giọng vừa dứt, xong câu cảnh báo
Phỉ chúa kêu: Hảo… hảo… cô nương !
Cậy chồng trước mặt sính cường (36)
Lệnh ban: Bắt hảo cô nương kia về !

Chỉ phút chốc, sơn khê mù mịt
Chưởng, xà mâu, xoắn xít, lại qua
Phụ nhân, tay chấp liên hoa
Đấu năm đại Hán, thủ hòa trăm chiêu…

Cùng khi ấy, thấy chiều dần tắt
Thiều Kim Tinh, tay dắt hai con
Dõi nhìn về phía đầu non
Thấy mây mù mịt, dặn con đứng chờ !

Đến khe núi, lờ mờ trông thấy
Thiều phu nhân, cùng mấy gã kia
Hỗn công, quyền cước, lia chia
Ái thê thể nhược, máu đìa đầm thân.

Chàng hét lớn: Tặc nhân ngưng thủ !
Xong xuất chiêu, “Phế chủ vi tân” (37)
Kế tung “Hành bộ thích Tần” (38)
“Mai hoa điểm tuyết” (39), địch nhân… ngũ thằng.

Nhị: bất tỉnh, trời trăng, chẳng biết
Tam: đứt hơi, vĩnh biệt thế gian
Ái thê, máu chảy tràn lan
Khắp thân, thương tích, vạn ngàn cấp nguy.

Xà mâu chống, chung quy, chẳng vững
Nhìn cuối trời, mây lững thững trôi
Hãi kinh, chàng gọi: Nàng ơi !
Vụt lao đến đỡ, “mâu” rời… tay tiên !.

Đêm trùm kín, cả miền sơn cước
Bõng (40) hiền thê, mặt ngước: Giàng ơi !
Thinh không, không tiếng trả lời
Tứ bề vắng lặng, trắng trời… tuyết rơi !

—————— CÒN NỮA —————–

Tp.HCM, ngày 11.11.2019
Thiều Ngọc Sơn.

Ghi chú:

(1). Nguyên triều hưng tức nhà Nguyên bên TQ thành lập. Theo sử: Nhà Nguyên khởi nguồn từ một dân tộc ít người Trung Quốc do Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt lập nên vào năm 1271, định đô tại Đại Đô (nay là Bắc Kinh). Năm 1279 diệt Nam Tống, thống nhất thiên hạ
(2). Đất Thang mộc. Nghĩa đen là tắm gội của vua khi tế trời đất, thần linh, xã tắc và tổ tiên; đất vua chúa phong các quan lại có công trong các triều đại xưa làm thực ấp. Nghĩa bóng là nơi phát tích của tổ tiên, dòng họ.
(3). Nguyên ủy “源,泉所出也;委,流所聚也” chỉ rõ sự tình, nguồn gốc xuất xứ, lai lịch. Chữ “nguyên ủy” ở đây được dùng với hàm ý nói rõ nguyên nguồn của dòng họ.
(4). “Hữu thủy hữu chung – 有始有終”: Hữu = có; Thủy 始 = đầu, đầu tiên như Thủy tổ 始祖, Tần Thủy Hoàng Đế nghĩa là Hoàng đế đầu tiên của nhà Tần; Chung 終 = cuối như tình 終情 tức thủy chung trọn đời. “Hữu thủy hữu chung” nghĩa là có đầu có cuối tức trình bầy từ đầu chi cuối.
(5). Thị tộc Hữu Ngu (有虞氏) là thị tộc sống trong thời cổ đại Trung Quốc. Thủ lĩnh tên Trọng Hoa (重华),tự là Đô Quân (都君),tên thụy là Thuấn (谥曰舜) tức Vua Thuấn (舜), một trong Ngũ đế thời cổ đại người được vua Nghiêu nhường ngôi cho vì cảm mến đức độ và tài năng. Theo các nhà sử học, Vua Thuấn sống vào khoảng 2277 – 2178 tr.CN.
(6). Vũ Vương – Cơ Phát tức Chu Vũ Vương (周武王 1180 TCN – 1043 TCN), con trai của Tây Bá Cơ Xương (Chu Văn Vương). Vũ Vương tên thật là Cơ Phát (姬發), vị vua sáng lập triều đại nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Nếu ngược tính thời gian từ Vua Vũ Vương nhà Chu đến đời vua Thuấn, ta thấy quả đúng là 1000 năm.
(7). Ca lúc khải hoàn tức khúc nhạc dành tấu lên với nội dung báo tin thắng trận trở về.
(8). Thiện nhượng – 禅让 tức nhường ngôi báu cho người hiền, không nhường cho con. Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn, Thuấn nhường ngôi cho Vũ nhẽ Vũ phải nhường cho người hiền nhưng… Vũ không làm thế mà nhường ngôi cho… con. Vũ chính là người sáng lập ra nhà Hạ và cũng là người đầu tiên xác lập chế độ cha truyền con nối (thế tập) lấy thiên hạ và coi thiên hạ là của riêng nhà mình.
(9). Ngũ đế bao gồm: Hoàng Đế (黃帝); Chuyên Húc (顓頊); Đế Cốc (帝嚳); Đế Nghiêu (帝堯); Đế Thuấn (帝舜).
(10). Khúc ca Khải hoàn tức khúc ca báo mừng chiến thắng, hỷ tiệp.
(11). Phục Hy, tức vua Phục Hy, vị vua trong truyền thuyết dân tộc Trung Hoa, người đứng đầu Tam Hoàng – 三皇 (Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông). Có thuyết cho rằng Tam Hoàng là: Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng, Phục Hy được xếp vào Ngũ Đế gồm: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn ?
(12). Tương truyền, vào một đêm trăng, Phục Hy tình cờ trông thấy có năm sắc sao rơi xuống gốc cây ngô đồng và chim phượng hoàng đến đó đậu. Vua biết cây ngô đồng là thứ gỗ quý, hấp thụ tinh hoa của trời đất, có thể dùng để làm nhạc khí được, liền cho người hạ cây, cắt làm ba đoạn. Đoạn ngọn, tiếng quá trong và nhẹ, đoạn gốc tiếng đục và nặng, chỉ có đoạn giữa tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được. Nhà vua cho ngâm đoạn giữa thân cây giữa dòng nước đúng bảy mươi hai ngày đêm, vớt lên phơi trong mát cho thật khô rồi gọi người thợ giỏi Lưu Tử Kỳ đẽo thành cây Dao cầm.
(13). Cây đàn Dao cầm do Phục Hy sáng tạo dài ba thước sáu tấc, một phần án theo ba trăm sáu mươi mốt độ chu thiên, mặt trước rộng tám tấc, án theo tám tiết, mặt sau rộng bốn tấc án theo bốn mùa, bề dày hai tấc án theo lưỡng nghi. Đàn gồm mười hai phím, tượng trưng cho mười hai tháng trong năm, lại có thêm một phím phụ tượng trưng cho tháng nhuận. Do đàn có năm dây án theo ngũ hành tượng trưng cho năm âm: cung, thương, giốc, thủy, vũ… nên còn gọi là Ngũ huyền.
(14). Hoành đồ – 宏图 sự nghiệp to lớn, vĩ đại
(15). Trước, tức trước tác, sáng tác, soạn, viết các tác phẩm…
(16). Quảng Đông: Truyền thuyết kể rằng, cách nay hơn 4000 năm, Vua Thuấn từng có lần Nam du kinh lý Bách Việt, khi ngang qua dãy núi Đơn Hà (nay thuộc Công viên thế giới địa chất – Tp.Thiều Quan, Quảng Đông, TQ) nhân thấy núi non hùng vĩ, cảnh vật dị thường Thuấn bèn hạ lệnh dừng chân và trèo lên núi dùng nhạc Thiều tế thiên. Tiếng nhạc vang lên, lay động cả núi rừng, đất đá nghe nhạc, rung lắc dồn thành 36 thối nhìn như hổ chầu voi phục, đầu quay về hướng Thuấn lắng nghe. Tên Thiều thạch sơn (núi Thiều thạch) nhân sự tích ấy mà thành danh (xin coi hình các khối đá tạo nên cái tên Thiều thạch sơn). Đây cũng nguyên do người TQ giải thích nguồn gốc lưu phái dòng họ Thiều ở Thiều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Theo đó, con cháu tại Thiều Châu đã lấy tên khúc nhạc làm họ của mình để tỏ lòng tôn kính đối với vị chưởng quan, với tiên tộc. Thiều Châu là tên gọi có nguồn gốc từ sự tích này, mãi năm Khai Hoàng thứ 9 đời nhà Tùy (589) mới đổi tên Thiều Châu (韶州) thành Thiều Quan (韶关).
(17). Khổng Tử đến nước Tề làm tôi ở nhà họ Cao Chiêu để được yết kiến Tề Cảnh Công. Khổng Tử nói chuyện âm nhạc với quan Thái sư (chức quan lo về lễ nhạc) nước Tề, nghe nhạc “Thiều” và học nhạc ấy, say mê ba tháng không biết đến mùi thịt_Sử ký Tư Mã Thiên.
(18). “Bách gia tính – 百家姓 nghĩa là Họ của trăm nhà”, sách do văn sĩ khuyết danh người đời Bắc Tống soạn. Trong đó liệt kê 504 họ của người TQ. Sách xếp họ Thiều đứng thứ 260 và ghi có nguồn gốc từ Thái Nguyên (Sơn Tây – TQ).
(19). Theo sử sách Trung Quốc giải thích, họ Thiều ở TQ có 02 nguồn gốc xuất xứ: 1) là từ bộ tộc Hữu Ngu do vua Thuấn lãnh đạo trước kia ở Thái Nguyên (Sơn Tây ngày nay), thủy tổ là người đã trước tác ra khúc nhạc Thiều, loại nhã nhạc cung đình dùng để tế thiên và tấu trong các ngày lễ mang tính trọng đại quả đất nước. 2) là ở từ cư dân chung quanh núi Thiều Thạch huyện Thiều Châu (nay là Thiều Quan – Quảng Đông), tên dòng họ có được là nhân lấy địa danh núi mà đặt.
Qua tập hợp, theo dõi, tôi – TG cho rằng tên họ của người họ Thiều ở Thiều Châu như đã dẫn sự tích tên núi Thiều Thạch (xin coi chú thích 24 ở phía dưới), thực ra là cùng 1 nguồn gốc, tức cùng xuất phát từ bộ tộc Hữu Ngu của vua Thuấn và thủy tổ chính là chưởng quan trông coi lễ nhạc của vua Thuấn.
(20). Mẹ Tơm: nhân vật trong tác phẩm thi ca “Mẹ Tơm” của thi gia nổi tiếng Tố Hữu. Mẹ Tơm tên thật là Nguyễn Thị Quyển, (sinh năm 1880, mất năm 1953, quê ở làng Hanh Cù, nay là thôn Đông Thành, xã Đa Lộc) là người phụ nữ giàu lòng yêu nước, yêu cách mạng. Lòng yêu nước, tinh thần cách mạng và những cống hiến, hi sinh của gia đình mẹ Tơm cho cách mạng đã được nhà thơ Tố Hữu thể hiện trong bài thơ nổi tiếng Mẹ Tơm.
(21). Tống mạt tức cuối đời nhà Tống. Nhà Tống Trung Quốc được thành lập do Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn vào năm 960, trải qua 319 năm đến năm Tường Hưng thứ 2 (祥興 1279) sau khi liên tiếp bị quân Nguyên truy kích, khi đến Nhai Sơn (Giang Môn – Quảng Đông) vua Tống là Triệu Bính vì cùng quẫn đã cùng đoàn tùy tùng hơn 800 người nhảy xuống biển tự vẫn. Nhà Tống chính thức diệt vong,
(22). Lĩnh Nam (chữ Hán: 嶺南) là vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh trong truyền thuyết xưa ở Việt Nam và Trung Quốc. Theo truyền thuyết đây là vùng đất giáp gianh với các tỉnh phía Bắc Việt Nam, có liên quan đến giai đoạn Hồng Bàng, nước Nam Việt của Triệu Đà và thời Trưng Vương trong lịch sử Việt Nam. “Lĩnh Nam” cũng được dành để chỉ nước Đại Việt tỉ như “Lĩnh Nam Trích Quái – 嶺南摭怪” sách gom những chuyện kỳ lạ, chuyện quái dị, ma mãnh ở nước Nam. Tương truyền sách do một danh sĩ đời nhà Trần biên soạn.
(22). Trong chiến tranh Kim – Tống (1206 -1208) nhà Tống liên tiếp bị bại trận nên đành sai sứ đi giảng hòa. Kim ra điều kiện ngoài việc nộp tiền cống hàng năm, thủ cấp Hàn Thác Trụ (tể tướng nhà Nam Tống chủ trương phạt Kim), Tống còn phải kêu nước Kim là nước bác và xưng nước cháu mới cho ký hòa ước Gia Định.
(24). Thiều Châu quận xưa còn có tên Thiều Thạch, Hành Châu… nay là Tp.Thiều Quan thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Tương truyền, Thuấn sau khi dẹp yên các bộ lạc nổi loạn, thấy muôn dân lạc nghiệp, thiên hạ thái bình mới Nam du ngoạn cảnh. Khi qua đất Quảng Đông, Thuấn nhân thấy núi non hùng vĩ mới hạ lệnh dừng chân, sau đó leo lên núi cử nhạc Thiều tế cáo trời đất. Và cũng vì lý do này, sử ghi con cháu vị Chưởng quan coi về lễ nhạc về sau đã lấy khúc nhạc Thiều làm Họ của mình để tưởng nhớ tổ tiên và… chỗ Thuấn làm lễ tế trời cũng mới có tên là Thiều Thạch.

(25). Theo phong tục xưa, núi Hỗ là nơi tưởng nhớ cha. Dĩ lĩnh(岭 – lĩnh là sườn, thấp hơn núi, tức sườn núi Dĩ hay núi Dĩ)là nơi ngóng mẹ. Bởi thế khi xưa ta thường thấy khi đưa phía trước có một bức hoành trắng do hai người khiêng, trên viết bốn chữ “岵山云暗 – Hỗ Sơn Vân Ám” để người lạ cũng có thể biết người chết là đàn ông hay “岂岭云蒙 – Dĩ lĩnh vân mông” là người đàn bà. Theo ngu ý của người viết, viết “蒙 – mông” mới đúng chứ viết “Dĩ lĩnh vân mê 岂岭云迷” là không đúng lắm. Chữ mông (蒙) là bị che đậy, tối tăm; chữ mê (迷) lầm lạc, không phù hợp với người chết lắm. Tục viết như này là vì trong kinh thi có câu:
陟彼岵兮瞻望父兮
陟彼屺兮瞻望母兮
Hán Việt:
Trắc bỉ Hỗ hề chiêm vọng phụ hề
Trắc bỉ Dĩ hề chiêm vọng mẫu hề.
Giải thích:
– Hỗ (岵) chỉ ngọn núi cao lớn, có cây cối rậm rạp…
– Dĩ (屺) âm Hán đọc là “qi” tức kỷ đồng thời giải thích đây là núi trọc, đồi trọc, đồi không có cây cối… ta quen đọc là Dĩ. “Trắc bỉ Hỗ hề chiêm vọng phụ hề” nghĩa là trèo lên núi Hỗ hề, trông ngóng cha hề. Núi Hỗ là núi cao lớn, có cây cối rậm rạp tức ẩn chứa, tiềm tàng nhiều mối nguy hiểm do vậy, việc lên núi cao, rừng sâu để kiếm củi, săn bắt hay khẩn hoang là công việc của người cha. Nói leo lên núi Hỗ ngóng cha là cái ý đấy. Và “Trắc bỉ Dĩ hề chiêm vọng mẫu hề” là leo lên núi Dĩ ngóng mẹ. Dĩ lĩnh là chỗ núi quang, đồi trọc. Lĩnh(岭) là sườn núi, nơi mẹ thường canh tác, trồng trọt…
(26). Huyên – 萱 : theo sách Chu Văn Công Gia Lễ “Huyên” là tên một loài cỏ – cỏ huyên. Cỏ huyên còn có tên khác là vong ưu 忘憂, nghi nam 宜男, cả hoa và lá đều ăn được. Trong Kinh Thi 詩經 có câu: “Yên đắc huyên thảo, ngôn thụ chi bối – 焉得萱草,言樹之背” có nghĩa là : sao được cỏ huyên, ở sau nhà phía bắc, tức là hoa này vậy. Theo kiến trúc cổ xưa, ở về phía bắc là chỗ của đàn bà ở và vì phía trước thường trồng cỏ Huyên nên gọi là huyên đường 萱堂 tức chỗ của mẹ ở.
(27). Đỗ quyên (杜鹃) tên tiếng Việt là chim Cuốc, tên chữ Hán là Đỗ Vũ (杜宇), ngoài ra nó còn có tên gọi khác là Tử Quy. Giống chim này đầu mỏ hơi cong, miệng to, đuôi dài, lông lưng màu tro, bụng trắng có 1 đường đen thẳng ngang. Nó thường sống chui lủi trong bụi rậm, hồ nước hoặc ao chuôm to to. Đến thời điểm đầu mùa Hạ cuối mùa Xuân thì loài chim này bắt đầu kêu chủ yếu vào những đêm trăng mờ tĩnh mịch, giọng kêu nghe thảm thiết bi ai gợi cho lữ khách tha phương động lòng nhớ tới nơi “chôn nhau cắt rốn”.
Theo sách “Sưu thần ký”, Đỗ Vũ (杜宇) là tên một vị vua nước Thục trong thời Chiến Quốc. Đỗ Vũ hoang dâm nên chính sự nước Thục không ổn định. Lại nhân thấy nhà Chu suy yếu bèn tự xưng đế, hiệu Thục Vọng Đế (蜀望帝). Đỗ Vũ thông dâm với vợ tướng quốc Biết Linh (鳖灵). Chuyện thông dâm bại lộ, Thục đế thẹn bèn nhường ngôi cho Biết Linh. Tuy nhiên, sau khi nắm quyền, Biết Linh chuyển ý, ngược đãi Thục đế khiến Thục đế uất hận bỏ nước ra đi. Tương truyền sau khi Thục đế chết, linh hồn hóa thành một loài chim suốt ngày chỉ kêu “quốc, quốc”. Người đời bảo đấy là Thục Đế nhớ nước nên mới kêu như vậy. Và cái tên chim Cuốc xuất phát từ tiếng kêu này mà thành.
(28). Giặc chúng tức bọn binh lính, không phải thủ lĩnh, tên đầu đảng… hay cán bộ (theo cách gọi của ta). Chữ “chúng – 众” nghĩa là nhiều, số đông, quần chúng.
(29). “Cử đỉnh tế thiên” tức nâng cái đỉnh lên tế trời, đây là chiêu thức võ công của người Mông Cổ.
(30). “Mông nhập Hán Trung” chỉ Lưu Bị mơ thu phục đất Hán Trung của Tào Tháo. Năn 217 để mở rộng địa bàn, Lưu Bị tấn công Hán Trung và sau chiến thắng này không lâu, năm 219 ông xưng Hán Trung Vương, sử kêu nhà Thục.
(31). “Nộ phát xung quan – 怒发冲冠” thành ngữ tiếng Hán nghĩa là giận lắm (nộ – 怒), giận đến độ làm đứng dựng cả lông tóc, khiến chúng chống cả mũ (quan – 冠 cái mũ, mũ vải ngày xưa; quan đái = dây cột mũ) đang đội trên đầu.
(32). “Nhân sinh hữu mệnh” tức con người có số, thọ yểu do do trời.
(33). Truy binh tức quan quân triều đình nhận lệnh truy đuổi, tìm bắt quan lại tiền triều bỏ trốn, hoặc có hoạt động chống đối tân triều. Truy binh đôi khi dùng chỉ “Bộ khoái”, lực lượng được giao nhiệm vụ truy bắt tội phạm, kẻ trốn lệnh truy nã kiểu như CSĐT, CSHS, Cục Cảnh sát truy nã tội phạm (C52) bây giờ.
(34). Phỉ tức bọn người bất lương, giặc cướp, thường tụ tập thành nhóm, bắt chó trộm gà, bày binh bố trận đánh cướp binh lương, cưỡng hiếp khách lữ… địa bàn phỉ hoạt động thường ở miền rừng núi.
(35). Trường mâu tức cây Xà mâu, một loại vũ khí lạnh, có lưỡi dài uốn cong như hình con rắn. Phàm loại nào biến từ thương mà ra, có hình thù quái lạ thì gọi là mâu. Thời Tam Quốc Trung Quốc, nhân vật Trương Phi từng dùng bát xà mâu khi xung trận. Thời Nam Tống, có Lâm Xung chuyên sử dụng xà mâu.
(36). Sính cường (逞强) tức lên mặt đe dọa, làm cứng…
(37). “Phế chủ vi tân – 废主为賓” tức dùng cường lực đả bại đối phương (vốn đang ở thế chủ động thành thế bị động) chiếm đoạt và làm chủ trận thế. Phế (废) là phế truất, loại khỏi; tân (賓)là khách, tân khách.
(38). “Hành bộ thích Tần” nghĩa đen chỉ việc Kinh Kha đi hành thích Tần Thủy Hoàng. Trong võ thuật, đây là chiêu dùng song chỉ thủ đâm chí mạng vào yết hầu (dùng công phá huyệt thiên đột hoặc chọc vỡ liêm tuyền) của đối phương.
(39). “Mai hoa điểm tuyết”, tuyết rơi đọng ở cánh hoa mai. Bàn tay từ chưởng biến thành long đầu quyền hoặc long nhãn sau đó đánh chí mạng vào các huyệt như thái dương, ế phong…
Từ chỗ là khách biến thành vai chủ, lấn dần dần đất của địch để đến chỗ địch không còn chỗ đứng Trong chiến dịch chiếm Hán Trung của Lưu Bị, Pháp Chính đã quân sư cho Hoàng Trung dùng kế phản khách vi chủ để cuối cùng chém chết được đại tướng của Tào Ngụy là Hạ Hầu Uyên.

(40). Bõng, tiếng địa phương tức bồng, bế.




Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM