1877 – NHỚ XỨ THANH !!!

Xuất bản vào 15:46:04 03/09/2020


Đền Bà Triệu

 

Mấy bữa rày, không dưng nỗi nhớ
Về xứ Thanh, từng mớ, cuộn trào
Ngày như, thuyền ngộ, ba đào
Hết rung lại lắc, đến nao… cả lòng.

Đêm chợp mắt, thấy dòng sông Mã (1)
Sông Đò Lèn (2), rồi cả sông Chu (3)
Nhớ Nưa (4), sừng sững, ngàn thu
Bồ Điền (5), dậy tiếng diệt thù, thủa nao.

 

Di tích Lam Sơn

 

Cả Thanh Hóa, hòa vào, giấc mộng
Hết Vọng Phu (6) đến động Hồ Công (7)
Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Hà Long (8)
Đào Sơn (9), núi Đọ (10), núi Rồng (11)… mến yêu!

Dzặt những đất, mang nhiều dấu ấn
Pháp – Mỹ nghe, tâm bấn, hồn kinh
Nhắc tên, Mông, Mãn… (12), giật mình
Truyền tai bảo: “Đất địa linh – Anh hào”.

Thực chẳng biết, vì sao nỗi nhớ
Mấy bữa dzày, từng mớ, cuộn trào
Người như, thuyền ngộ, ba đào
Ngày đêm rung lắc, đến nao… cả lòng !.

Tp.HCM, ngày 03.9.2020
Thiều Ngọc Sơn.
——————–
Ghi chú:
(1) Sông Mã: Con sông có chiều dài 512 km bắt nguồn từ Lào chảy vào lãnh thổ Việt Nam tạo là nguồn chủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa. Sông Mã là con sông lớn thứ ba ở Việt Nam.

(2). Sông Đò Lèn (còn gọi sông Lèn) là một phân lưu phía bắc của Sông Mã được tách tại địa phận xã Vĩnh An (huyện Vĩnh Lộc) và xã Hà Sơn (huyện Hà Trung), chảy theo hướng đông đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Lạch Sung. Sông Lèn có tổng chiều dài khoảng 34 km. Một đoạn sôn Lèn xưa được Lê Hoàn tổ chức khơi thông nối với các sông khác tạo thành tuyến kênh Nhà Lê với mục đích tạo tuyến giao thông thủy nối từ kinh đô Hoa Lư tới biên giới Đèo Ngang thời Tiền Lê. Trong Chiến tranh Việt Nam, Đò Lèn trở thành một trong những điểm oanh kích dữ dội của không quân Mỹ nhằm cắt đứt tuyến giao thông quan trọng ở miền Bắc Việt Nam.

(3). Sông Chu: Sông Chu xưa được gọi là sông Lường (ngôn ngữ Tày, Thái gọi là Nậm Sam; nguyên gốc gọi là sông Sủ, người Pháp viết thành Chu), là phụ lưu lớn nhất của sông Mã. Bắt nguồn từ một vùng núi tây bắc Sầm Nưa (Lào), chảy qua các huyện Quế Phong (Nghệ An), Thường Xuân, Thọ Xuân, Thiệu Hóa (Thanh Hóa) theo hướng tây bắc – đông nam, đổ vào bờ phải sông Mã. Sông Chu có tổng chiều dài 325 km.

(4). Nhớ Nưa: tức nhớ núi Nưa, tục kêu Ngàn Nứa (nhiều nứa), núi Nứa, núi Na thuộc địa phận ba huyện Như Thanh, Nông Cống, Triệu Sơn. Nguyên trước kia, khu vực này là rừng nứa bạt ngàn, có nhiều gỗ quý và động vật quý hiếm. Đã có câu phương ngôn: “Vật rừng Nưa, dưa chợ Bạng”. Ngàn Nưa được xem là một vùng gắn với những huyền thoại và giai thoại trong kho tàng cổ tích VN. Ngàn Nưa cũng là nơi Bà Triệu dấy binh, luyện quân chống giặc Ngô, nơi Tống Duy Tân đặt cứ điểm chống Pháp, và nơi Nguyễn Thượng Hiền về ở ẩn.

(5) Bồ Điền: Địa danh và cũng là tên làng. Bồ Điền là căn cứ do Bà Triệu lập để chống giặc Ngô (nước Ngô do Tôn Quyền làm vua trong thời Tam Quốc) và xây dựng tuyến phòng thủ từ căn cứ Bồ Điền đến cửa biển Thần Phù (Nga Sơn, Thanh Hoá) để ngăn chặn viện binh Ngô theo đường biển tấn công từ phía Bắc. Theo sử sách, do có sự chênh lệch về lực lượng nên cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô do Bà Triệu lãnh đạo đã thất bại. Toàn bộ căn cứ Bồ Điền bị bao vây, cô lập. Biết khởi nghĩa thất bại, Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi.
Đền Bà Triệu được xây dựng ở làng Bồ Điền (nay là xã Phú Điền, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa), nằm sát đường Quốc lộ 1A, cách thành phố Thanh Hóa 17 km về phía Bắc. Đền tựa lưng vào núi Gai. Nhìn sang bên là Lăng, dựng trên núi Tùng, gồm Mộ và Tháp.

(6). Núi Vọng phu: còn gọi núi Khế, núi An Hoạch, Nhuệ Sơn, núi Nhồi (nằm ở địa phận làng Nhồi, làng An Hoạch thuộc xã Đông Hưng xưa).Gọi Vọng phu (Vọng phu thạch – Đá trông chồng) vì từ xa, ta có thể nhìn thấy trên đỉnh núi có một trụ đá hình người phụ nữ bế con mắt dõi nhìn ra phía biển Đông. Trải bao gió bụi của thời gian, hình ảnh đó vẫn cứ “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Nhiều văn nhân, thi sĩ đã dừng chân, đề thơ, tiêu biểu là bài thơ của Đại thi hào Nguyễn Du:

“Đá chăng? Người đó? Chi đây?
Một mình trên ngọn núi này ngàn năm
Bạn đời không chút mộng rằng
Điều trinh giữ vẹn tấm thân muôn đời

Mưa thu lệ cũng tuôn rơi
Dấu rêu lấp triện, phi lời văn chương
Núi đồi lớp lớp khói sương
Để riêng bạn gái luân thường nêu cao”

Và trong dân gian Thanh Hóa còn lưu truyền câu thơ:

“Vọng Phu trẻ mãi không già
Thủy chung đứng đó biết là chờ ai?”

(7) Động Hồ Công: Địa danh nổi tiếng từ ngàn xưa. Động Hồ Công nằm trên lưng chừng núi Xuân Đài (xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc), được người xưa liệt vào kỳ quan bậc nhất ở phương Nam. Truyền thuyết kể là xưa kia, ở đây có chàng Trịnh Phát Giác được gặp vị tiên là Hồ Công Long, cho vào ở trong một quả bầu là một thế giới thần tiên, con người cực kỳ sung sướng. Khi Trịnh được về, Hồ Công cho một cái gậy rút, y như chuyện Phí Trường Phòng ở Trung Quốc ngày xưa. Bên đường lên động, trên một phiến đá tự nhiên có khắc dòng chữ: “Thanh kỳ khả ái” (xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu). Xưa có rất nhiều văn nhân, danh sĩ đã từng đến ngao du và đề thơ tại đây như: Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Nghiễm, Trịnh Sâm, Ngô Thì Sĩ… và đặc biệt là vua Lê Thanh Tông. Vua Lê không chỉ đến thăm thú mà còn làm thơ để ca ngợi. Dưới đây là bài thơ của vua Lê để lại:

“Thần chùy, quỷ tạc vạn trùng san
Hư thất cao sang vũ trụ khoan
Thế thượng công danh đồ thị mộng
Hồ trung nhật nguyệt bất thăng nhàn.

Hoa Dương long khứ huyền chân trụy
Bích lạc truyền lưu bạch ngọc hàn
Ngã dục thừa phong lăng tuyệt đỉnh
Vong cung vân hải hữu vô gian”.

Tạm dịch:

Khôn thiêng khéo tạc núi muôn trùng
Cửa động thênh thang gió dễ thông
Cuộc thế công danh như giấc mộng
Bầu tiên mừng nguyệt thú vô cùng

Hạt châu rơi đất nghi rồng hóa
Giọt nước muôn trời rẽ suối trong
Muốn cưỡi gió lên chơi đỉnh núi
Trông mây, trông nước tứ tầng không

Một điều thú vị là cách động Hồ Công không xa, có ngọn núi vì nhìn rất giống hình dáng một vị tiến sĩ tên gọi núi Tiến sĩ (Tiến sĩ sơn – 进士山). Mặt núi ngoảnh về làng Bồng (xã Vĩnh Tân) là nơi có nhiều người đỗ đạt, đây cũng là quê hương cụ nghè Tống Duy Tân.

(8). Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Hà Long (8): nói về các địa danh như Lam Kinh (còn gọi Tây kinh) nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lê Lợi. Lam kinh nằm trên địa bàn thị trấn Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa; Vĩnh Lộc: địa danh không chỉ có thành nhà Hồ mà còn nơi sinh ra dòng Chúa Trịnh trong lịch sử dân tộc. Phủ Trịnh nằm ở xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa; Hà Long là địa danh của một xã thuộc huyện Hà Trung (Thanh Hóa) đồng thời cũng là đất thang mộc, quý hương, nơi sinh ra dòng Chúa Nguyễn và triều Nguyễn sau này. Hà Long xưa còn được gọi là Gia Miêu trang, thuộc Tống Sơn, phủ Hà Trung.

(9) Đào Sơn: Nơi có đền thờ danh tướng thời Trần, Tướng công Thiều Thốn. Cùng với núi Đào, cả vùng đất thuộc địa phận các thôn Nhuận Thạch, Triệu Triệu (xã Đông Tiến huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) đều nằm trong di chỉ Đồng Ngầm và được phát hiện năm 1974. Di chỉ rộng 36.000 m², các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật với diện tích 16 m². Tầng văn hoá dày 1,60 m, chia làm 2 lớp trên và dưới đều nhau. Hiện vật có 23 đồ đá như rìu tứ giác, chày nghiền, đục, mảnh vòng; 17 đồ đồng như: rìu, khuyên tai, bao tay, vòng, giáo minh khí, mảnh thạp. Phát hiện mộ vò 2 nồi úp nhau đồ tuỳ táng là đồ đồng. Vừa là nơi cư trú vừa mộ táng, từ hậu kỳ đá mới đến kim khí. Di chỉ có niên đại thuộc văn hoá khảo cổ học Đông Sơn.

(10). Núi Đọ: nằm bên hữu ngạn sông Chu, thuộc huyện Thiệu Hoá, Thanh Hóa. Núi Đọ nằm ngay ngã ba của ba xã: Thiệu Tân, Thiệu Vân, Thiệu Khánh, ngã ba của sông Chu, sông Mã, hai con sông lớn nhất của tỉnh Thanh Hoá. Cùng với núi Bàn A (Núi Vồm – Thiệu Khánh) – Cồn Chân Tiên (Thiệu Khánh) tạo ra thế chân kiềng vững chãi. Núi Ðọ được xem là nơi có nhiều vết tích về người cổ. Núi Ðọ còn được gọi là Qui Sơn, được ngợi ca là “Linh Quy Hí Thuỷ” (Rùa thiêng uống nước) là thắng cảnh trong Bàn A thập cảnh. Nhiều nhà khoa học xếp di chỉ Núi Đọ vào sơ kỳ đồ đá cũ, giai đoạn phát triển đầu tiên của loài người. Thời điểm kết thúc của giai đoạn này là cách đây khoảng 10.000 năm.

(11). Núi Rồng: là một dãy núi bao gồm nhiều ngọn, chạy dọc bờ Nam sông Mã có hình dáng con rồng theo trí tưởng tượng dân gian. Trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hàm Rồng nổi tiếng với nhiều trận đánh khốc liệt giữa địa phương quân với tàu bay của Đế quốc Mỹ.

 

 

Núi Rồng, nơi có chiếc cầu treo (cầu Hàm Rồng) bắc qua sông Mã được xây dựng năm 1904, Thi sĩ Tản Đà đã cảm tác nhớ mong (thơ 1933):

“Ai xui ta nhớ Hàm Rồng
Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây
Từ ta trở lại Sơn Tây
Con đường Nam Bắc ít ngày vãng lai”

Sơn cầu còn đỏ chưa phai?
Non xanh còn đối? sông dài còn sâu?
Còn thuyền đánh cá buông câu?
Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa?”.

(12). Mông, Mãn: Mông tức Mông Cổ (quốc gia có 3 lần tham chiến với Đại Việt); Mãn tức Mãn Thanh, nhà Thanh Trung Quốc với trận chiến Đống Đa – Ngọc Hồi của Nguyễn Huệ.




Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM