1891 – CÒN KHÔNG ???

Xuất bản vào 11:29:38 19/09/2020


Đợi chồng, thiếu phụ dầm mưa…

 

Ai người ở, Đông Sơn, Thanh Hóa
Hỏi thăm giờ, thịt “chóa” còn ăn ?
Đông Quang, Đông Phú, Đông Văn
Đường xưa lầy lội, cỏ năn, lác còn ?

Còn không kiểu, bế con bằng nách (1)
Tiếng ai mời, gọi khách: Anh nhiu (2) ?
Còn không, chị cứ mỗi chiều
Chỉ tay, con hĩm (3)… ngó iu… không tề (4) !

 

 

Còn không chuyện, lết lê, nghèo khổ
Tối lại quây, bên rổ khoai mò (5)
Cấy đêm, còn cất điệu hò
Dzô tà, dzô tả, nghe cho, vợi rầu ?

Còn không “mục”, cỡi trâu về xóm ?
Giữa đêm đông, lửa nhóm… hơ tay ?
Còn ai, gọi bố bằng “Thày”
“Mi, Tau” một thủa, đong đầy dấu yêu !

Còn không cảnh, quạ diều xây giếng (6)
Có không dzai, “tứ chiếng” bôn đào ?
Còn không, muốn cá – tát ao
Bao quanh nhà vẫn, bờ rào… mồng tơi !

Còn không chuyện, “giếng khơi – nông nổi
Cơi đựng trầu, cạn đổi – thâm sâu”
Còn không, cởi áo trao nhau
Về nhà dối Mẹ, qua cầu…, gió bay !

 

 

Còn không chuyện, ngày nay đất Mẹ
Kêu “trống đồng”, vạn vẻ khó khăn
Còn không, cày cấy, nhọc nhằn
Tháng ba ngày tám, “chạy ăn”… thuở nào.

Núi Nhồi có, còn cao giống trước
Khách “chinh phu”, lê bước về chưa ?
Đợi chồng, thiếu phụ dầm mưa
Ngàn năm, nguyện ước thỏa chưa, nỗi lòng ?

Hồ Kẻ Rủn (7), còn không, dài rộng
Ngũ trò Bôn (8), vang động khắp nơi
Rừng Thông, còn đứng giữa trời…
Đông Sơn, đất Mẹ, cả đời con yêu !.

Ngày 19.9.2020
Shaolaojia_Thiều Sơn
—————————
Ghi chú:
(1). Bế con bằng nách: một kiểu bế trẻ nhỏ rất đặc trưng của người Việt. Tức bắt 2 chân của đứa trẻ xoạc sang 2 bên còn người bế thì dùng hông để nâng đỡ trẻ. Kiểu này chỉ có ở ta, bên Tây không dùng.
(2). Anh nhiu (cũng viết “nhiêu”): Anh nhiu, chị nhiu là từ địa phương Hoa Thanh Quế dùng gọi những vợ chồng lấy nhau mà chưa có con (vợ chồng son). Anh nhiu mà lấy chị nhiu… đẻ ra con “hĩm” (bé gái) hoặc thằng “cò” (bé trai, thằng ku) thì chuyển sang gọi anh “hĩm”, chị “hĩm” hoặc chị “cò” (chị ku). Hĩm với Cò là tiếng kêu thân mật dành cho con nít xưa (trẻ nhỏ) giống như bây giờ gọi tên con ở nhà bằng thằng Cún, con Nâu vậy.
(3). Hĩm: khẩu ngữ địa phương chỉ bé gái. Tố Hữu trong bài thơ “Mẹ Tơm” có viết:
– Ô kìa, cô bé nói hay sao!
Nhà của tôi, ai lại hỏi chào
Như thể khách đường xa ghé lại
Bố đi đâu, hĩm, mẹ đâu nào?
Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?
– Hai mươi
– Ờ nhỉ, tháng năm trôi
Sóng bồi thêm bãi, thuyền thêm bến
Gió lộng đường khơi, rộng đất trời !
(4). Tề: tương đương từ “kìa” trong tiếng phổ thông.
(5). Khoai mò: tên gọi khác của Hoa Thanh Quế chỉ khoai lang bị hà hay bị sùng, bị dím… Khoai bị hư do tác hại của một loại côn trùng có tên là con bọ hà. Nói khoai mò là nói quá chứ thực chất cũng không đến độ “mò” cả rổ.
(6). Lũ diều xây giếng: Xưa ở quê, cứ chiều lại thường có những đàn diều (quạ) bay liệng thành vòng tròn trên không trung, dân gian gọi là diều xây giếng.
(7). Hồ Kẻ Rủn: tên gọi khác của hồ Mau Rủn thuộc xã Đông Khê. Theo số liệu, hồ Mau Rủn rộng hơn 100 ha, có nhiều loài thủy sinh quý sinh sống như rùa (nặng đến vài chục kg), ba ba…
(8). Ngũ trò Bôn: giống như Ngũ trò Viên Khê nổi tiếng (được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia từ ngày 11 tháng 9 năm 2017), ở kẻ Bôn (xã Đông Thanh) cũng nổi tiếng không kém. Ngũ trò Bôn gồm: Ngô phường, Lan phường, Tiên phường, Thủy phường, Lăng ba khúc, phản ánh đời sống sinh hoạt và tâm tư tình cảm của người nông dân Việt Nam xưa.




Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM