2002 – Tam giáo – Cửu lưu ?

Xuất bản vào 19:54:56 18/02/2021


 

Tháng Mười Hai năm 573 sau Công nguyên, hoàng đế triều Bắc Chu là Vũ Văn Ung triệu tập các quan trong triều đình, cùng với các đạo sĩ Lão giáo và sư môn Phật giáo tổ chức một cuộc họp lớn. Trong cuộc họp này các giáo phái sẽ xác định địa vị của ba đạo thông qua việc trình bầy giáo nghĩa của mình.

Qua một đợt tranh luận hết sức kịch liệt, mọi người nhất trí cho rằng Nho học của Khổng Tử, nhà tư tưởng và chính trị lớn của thời Cổ đại, là một tôn giáo, cần phải được đặt lên hàng thứ nhất, học thuyết của đạo mà Lão Tử sáng lập trong thời Đông Hán, tức là Đạo giáo, thì được đặt vào hàng thứ hai, còn đạo Phật du nhập trong thế kỉ II sau Công nguyên từ Ấn Độ vào Trung Quốc thì được đặt vào hàng thứ ba.

Cửu lưu là chỉ các lưu phái Nho gia, Đạo gia, Âm Dương gia (dựa vào học thuyết âm dương ngũ hành để bói toán), Pháp gia (đặt ra pháp luật để trị yên thiên hạ), Danh gia (nghiên cứu lôgic, chủ yếu là các thuật nguy biện), Mặc gia (theo học thuyết Mặc Tử), Tung Hoành gia (các nhà hùng biện về chiến lược chia rẽ và liên kết), Tạp gia (nghiên cứu các môn lặt vặt), Nông gia (nghiên cứu nghề nông). Học thuyết và tư tưởng của các lưu phải này có sức thúc đẩy và ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển văn hóa, tư tưởng và khoa học trong thời Cổ đại của Trung Quốc.

 

 

Trong ba giáo phái lớn lưu hành ở thời kì Bắc Chu thì Nho gia và Đạo gia chiếm hai địa vị quan trọng nhất. Tư tưởng Nho gia trong xã hội phong kiến tồn tại kéo dài rất lâu ở Trung Quốc và bao giờ cũng được coi là tư tưởng chính thống. Bảy gia khác đều hình thành trong thời kì Chiến Quốc 400 năm trước Công nguyên. Các âm dương gia đã dùng cặp khái niệm tương phản “âm” và “dương” để giải thích các thế lực vật chất đối lập và tiêu giảm hay tăng trưởng lẫn nhau trong giới tự nhiên, và dùng năm loại vật chất mộc, hỏa, thổ, kim, thủy để thuyết minh sự phát nguyên và thống nhất của vạn vật. Tư tưởng nhận thức này có địa vị quan trọng trong nền văn hóa Cổ đại Trung Quốc.

Các Pháp gia, với tư tưởng dùng nông nghiệp để làm giàu, chủ trương chấp hành nghiêm mật chế độ pháp luật chặt chẽ, đã có ảnh hưởng rất lớn trong thời Cổ đại.

Các Danh gia cũng rất có cống hiến dối với sự phát triển của môn lôgic Cổ đại.

Các Mặc gia đã có nghiên cứu và cống hiến đối với nhận thức luận, lôgic, thậm chí hình học.

Tuy nhiên về sau cái gọi là “Tam giáo cửu lưu” không còn chỉ ba tôn giáo và chín lưu phái như đã trình bầy trên kia nữa, mà chỉ dùng để chỉ các lưu phái trong tôn giáo và học thuật. Lại có thời kì trong giới giang hồ, các kẻ hành nghiệp cũng được gợi là “Tam giáo cửu lưu”, nhưng cách gọi này là có hàm ý chê bai.

三教為: 儒、釋、道

九流為: 儒家、道家、墨家、名家、縱橫家、法家、陰陽家、雜家、農家。後用來泛指社會上各式各樣的人物。

今天认为是贬义的“三教九流”一词是民间对于地位和职业名称来划分的。三教没有什么特殊区分,而九流就不一样了。民间按社会地位,将“九流”分为“上九流”、“中九流”、“下九流”,同时,九流存在两种不同的说法:

第一

“上九流”是:帝王、圣贤、隐士、童仙、文人、武士、农、工、商。

“中九流”是:举子、医生、相命、丹青(卖画人)、书生、琴棋、僧、道、尼。

“下九流”是:师爷、衙差、升秤(秤手)、媒婆、走卒、时妖(拐骗及巫婆)、盗、窃、娼。

第二

上九流:一流佛祖、二流仙、三流皇帝、四流官、五流烧锅、六流当、七商、八客、九种田。

中九流:一流举子、二流医、三流风水、四流批、五流丹青、六流相、七僧、八道、九琴棋。

下九流:一流巫、二流娼、三流大神、四流帮、五剃头、六吹手、七戏子、八叫街、九卖糖。

地位和职业的区分就有了高低贵贱之分,因此古代小说将其变成了含有贬义的词语。早在汉朝之前的三教九流的名称是不含贬义的.




Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM