2005 – LỜI ĐẦU NĂM – GỬI HỘI ĐỒNG HƯƠNG ĐÔNG SƠN

Xuất bản vào 04:00:03 23/02/2021


 
Xin được gửi, lời chào các bạn
Nhân đầu năm, chúc: Vạn sự may
Chúc ai, cũng vậy, năm này
Làm chi được nấy, đong đầy dấu yêu.
 
Sự nghiệp chúc, như diều gặp gió
Đường công danh, chẳng có vệt mờ
Thần minh, chẳng lúc, gọi “đơ”
Nghĩa son tình sắt, áng thơ… thêm nồng.
 
Xa có nhớ, Rừng Thông chốn cũ (1)?
Nhớ hồ Mâu (2), ai rủ, ắt về
Nhớ bài “Đi cấy”, Đông Khê (3)?
Nhớ phiên chợ Chuộng, nhà quê… Đông Hoàng (4)?
 
Nhớ lối cũ, Đông Quang, Đông Phú ?
Nghè Vinh thờ, tiên chủ Lê Hoàn (5)?
Đông Văn, xưa có vị quan?
Thượng thư tuẫn tiết, bảo toàn chữ “trung” (6) ?
 
Lê Ngọc chẳng, cúc cung, Đường quốc (7)
Hô hào dân, nổi cuộc can qua
Đến nay, sự tích, chửa nhòa
Đồng Pho mảnh đất, Đông Hòa… đấy thôi (8).
 
Xa còn nhớ, núi Nhồi vẫn đợi ?
Kẻ đi xa, vời vợi nhớ thương?
Đền Thiều (9), chìm đắm khói hương ?
Sông Lê còn bóng, nghè Vường… nghiêng soi (10).
 
Kẻ Bôn vẫn, mặn mòi, cô gái (11)
Trai Hữu Bộc, đứng đái bè luồng (12)?!
Tục tằn mà gái, chẳng buông
Bè chưa khuất bóng, cuống cuồng chạy theo.
 
Cuống cuồng gọi, anh đèo em với
Mặc cho bà, mẹ bới, chẳng quan
Kẻ đi xa ới ! Có còn
Nhớ chăng mảnh đất, sắt son… nghĩa tình !
 
 
Chúc các bạn, quê mình mãi khỏe
Sự nghiệp thời, vạn vẻ hanh thông
Trí luôn, vững chắc, như đồng
Quyết làm rạng rỡ, quê Đông Sơn mình.
 
Tp.HCM, ngày 23.2.2021
Shaolaojia_Thiều Ngọc Sơn
——————
Chú thích:
(1). Rừng Thông: do trên núi có rất nhiều thông mọc, rậm rịt như rừng nhân đấy có tên gọi núi Rừng Thông. Rừng Thông xưa còn có tên gọi khác là Phượng Lĩnh, ngọn núi có hình dáng giống con chim Phụng (một trong 4 loài linh vật theo quan niệm của người Việt). Núi Rừng Thông nằm cách Tp.Thanh Hóa 05km về phía Tây và hiện địa danh này là Trung tâm Hành chính của UBND huyện Đông Sơn, là bộ mặt, hình ảnh đại diện của quê hương trong tâm thức những người con Đông Sơn sống xa “tổ quốc”.
 
(2). Hồ Mâu: tức hồ Mâu Rủn (Mau rủn), 1 hồ nước lớn có diện tích rộng trên 100ha thuộc địa bàn 2 xã Đông Khê và xã Đông Hoàng. Đây cũng là địa danh được biết đến với tên gọi “Ngũ trò Mâu”, “Ngũ trò Viên Khê”… với những làn điệu dân ca, dân vũ nổi tiếng như bài Đi cấy và tổ khúc Múa đèn đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
 
(3). Bài ca “Đi cấy”: là một trong tổ khúc dân ca, dân vũ của người dân Đông Anh. Cùng với “Ngũ trò Viên Khê”, “Ngũ trò Rủn”, “Ngũ trò Bôn”, tổ khúc “Đi cấy đêm trăng” được nhà nước công nhận là Di tích văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia vào tháng 9 năm 2017.
 
(4). Chợ Chuộng: chợ Chuộng còn có tên là chợ “cầu may”, đây là cái chợ hết sức độc đáo giữa làng quê Đông Sơn. Người xứ Thanh nói chung và người Đông Sơn ta nói riêng, xưa có câu: “Chết bỏ con, bỏ cháu – Sống không ai bỏ mùng 6 chợ Chuộng”. Chợ nằm tại xã Đông Hoàng, điểm đặc biệt là chợ chỉ họp mỗi năm 1 lần vào đúng ngày mùng 6 tết.
Chợ có từ thời cổ lỗ xỉ cách nay 600 năm. Tương truyền thời chống Minh cứu nước. Có một lần, nghĩa quân Lam Sơn khi hành quân đến thôn Giang (xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn) thì bị giặc phát hiện, bao vây, truy kích. Nhằm giải thoát cho nghĩa quân, nhân dân mấy xã gần đó truyền tai nhau và giả vờ tổ chức họp chợ ngay trên bãi sông nhằm che giấu nghĩa quân. Khi giặc đuổi đến, do nghĩ là phiên chợ bình thường nên không phòng bị. Nhân đấy, nhân dân cùng với nghĩa quân bất ngờ tấn công khiến giặc không kịp trở tay.
Để ghi nhớ sự kiện này, hằng năm nhân dân các xã Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Khê, xã Dân Quyền, Dân Lý (Triệu Sơn) và du khách thập phương cứ mùng 6 tết âm là đổ về họp chợ mong được sống lại hào khí của nghĩa quân năm xưa. Khi đến chợ, ai cũng mua một vài cân cà chua, táo hoặc trứng gà trứng vịt làm “vũ khí” để chuẩn bị “choảng nhau”. Với quan niệm “ném xui nhận may” nên ai cũng mong nhận được nhiều… cà chua và trứng thúi do người khác ném vào người.
 
(5). Tiên chủ Lê Hoàn: tức Lê Đại Hành hay Đại Hành Hoàng Đế (chữ Hán: 黎大行; 10 tháng 8 năm 941 – 18 tháng 4 năm 1005), vị Hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Phong kiến VN, 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc.
 
(6). Thượng thư tuẫn tiết: Tức Lê triều Lại bộ Thượng Thư, Đệ nhị giáp Tiến sĩ Thiều Quy Linh (1479-1527). Theo Đại Việt sử ký: Thiều Quy Linh sau khi đỗ Tiến sĩ được bổ nhiệm làm quan đến chức Lại Bộ Thị Lang kiêm Lễ Bộ Tham tri. Triều vua Lê Chiêu Tông được sung chức Bồi Tòng tả Thị lang, tháp tùng đoàn sứ thần sang sứ bên Trung Quốc. Khi đoàn sứ thần về đến cầu Long nhĩ, sông Nhị Hà (sông Hồng bây giờ) nghe tin Mạc Đăng Dung bắt và giết chết vua Lê Chiêu Tông (năm 1526), phế truất Cung Hoàng tự lên ngôi lập ra nhà Mạc. Đức ông khóc lóc tiếc thương cho cơ nghiệp nhà Hậu Lê đồng thời chửi bới ngụy Mạc hết lời sau đó nhảy xuống sông Nhị Hà tuẫn tiết. Niên hiệu Thành Thái năm thứ 2 (1890), nhà Nguyễn vì tôn kính gương tuẫn tiết của bậc trung thần bèn truy tôn và sắc phong đức Thiều Quy Linh là “Lại Bộ Thượng Thư – Tiết Nghĩa Tôn Thần”, gia phong “Quảng Ý Dực Bảo Trung Ương Thượng Đẳng Thần” lệnh cho dân lập đền thờ quanh năm cúng tế nhằm xiển dương gương sáng của các bậc trung thần hết lòng vì xã tắc. Chuyện Thiều Quy Linh vì nước tuẫn tiết được ghi trong sách “Lịch triều hiến chương loại chí” mục “Bề tôi tiết nghĩa” của tác giả Phan Huy Chú.
 
(7). Lê Ngọc chẳng cúc cung Đường Quốc: Lê Ngọc không chịu thuần phục sự cai trị của nhà Đường (TQ). Theo thần tích ở đền thờ Lê Ngọc tại tổng Thạch Khê, nay thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa: tổ tiên của Lê Ngọc làm quan nhà Tấn, được phong tước hầu. Đến thời nhà Lương đã có 3 đời liên tiếp được phong hầu. Sang đến đời nhà Tùy, Lê Ngọc được phong Tuyên uy tướng quân Nhật Nam thái thú (quận Nhật Nam lúc này tương ứng với các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), sau đổi làm Cửu Chân thái thú. Khi nhà Đường thay thế nhà Tùy (618), Lê Ngọc không những không thuần phục mà còn cùng các con chia nhau đánh chiếm các địa phương, phất cờ khởi nghĩa chống lại nhà Đường.
 
(8) Đồng Pho: Theo sử, Đông Pho (còn gọi là Đông Phố -东 鋪), nay thuộc xã Đông Hòa, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) là sở lỵ của quận Cửu Chân từ thời nhà Lương, nhà Tùy. Khi Lê Ngọc khởi nghĩa, ông đóng quân ở làng Đồng Pho tự quản Cửu Chân chống lại nhà Đường. Tại làng Đồng Pho (địa phận Đông Hòa ngày nay) hiện còn dấu vết các đường phố thẳng và các giếng nước xây bằng đá, có thể là một trấn thành, được coi là trụ sở, căn cứ của Lê Ngọc.
 
(9). Đền Thiều: đền thờ danh tướng Kim Ngô vệ, Phò mã Đô úy Thiều Thốn trên núi Đào Sơn (xã Đông Tiến), người có công rất lớn trong việc trấn giữ biên thùy, giữ yên cơ nghiệp nhà Trần.
 
(10). Nghè Vường: nghè thờ “Tiết phụ Ý đức thuần Mỹ Quận phu nhân” bà Nguyễn Ngọc Nga, thân mẫu của Tướng công Thiều Thốn. Nghè nằm ở ven sông nhà Lê thuộc xóm Tông xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn.
 
(11). Kẻ Bôn: còn gọi là Cổ Bôn (xã Đông Thanh ngày nay), địa danh xưa nổi tiếng là vùng đất hiếu học, nhiều người đỗ đạt và trở thành mệnh quan trọng yếu của các triều đại phong kiến xưa. Cổ Bôn cũng là nơi lưu giữ, sản sinh nhiều tập tục mang đậm nét văn hóa đặc sắc của văn minh lúa nước có từ thời Tùy Đường như “Ngũ trò Bôn”. Trai Cổ Bôn đa tài, gái đa sắc.
 
(12). Trai Hữu Bộc đứng đái bè luồng: tức trai làng Hữu Bộc (xã Đông Ninh). Làng Hữu Bộc xưa ngoài việc trồng lúa còn rất nổi tiếng với buôn bán luồng, buôn than. Để tiện việc chuyên chở, xưa người buôn luồng thường kết lại thành bè sau đó thả xuống sông xuôi theo dòng nước. Ngày xưa mình nhớ, hễ ra sông mà thấy ông nào đứng trên bè luồng đái thì mấy bà ở quê chỉ và khẳng định đó là dzai Đông Ninh, người làng Hữu Bộc Kkk.



Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM