1136 – CHỈ RỔ ỐC !
Xuất bản vào 08:48:30 15/03/2018
Không dưng bỗng ngồi thèm ốc quắn
Rồi nhớ quê, đến xoắn cả lòng
Nhớ xưa những buổi chiều đông
Cùng anh đem chúm (1) thả đồng nước sâu.
Trên bờ ruộng, cắm câu lưỡi móc
Cá rủ nhau, lóc dzóc vô coi
Mấy con tính nết loi choi
Há mồm dính lưỡi câu toi bố đời.
Chỗ nước chảy (2), nhất thời đặt bẫy
Đợi cá ưa, “phượt” nhảy đó đây
Nhất thời “họa” tự mình gây cho mình.
Chiếc lừ (lờ) bóng, nhìn xinh thấy ớn
Dành mấy em, ngả ngớn chui vô
Chúm lừa bắt trạch, lươn, rô
Lá đu (xoan) nhử ốc, tép hồ dùng te (3)…
Chúm lừa bắt trạch, lươn, rô
Đương chạy nhảy, bỗng nghe từng loạt
Ốc quắn rơi, “choạt choạt” xuống nồi
Độ chừng mươi phút xong thôi
Mùi hương lá bưởi muốn trôi cái làng.
Thằng đoan chắc, ông Khang luộc ốc
Đứa cãi nhà, cố Lộc đầu thôn
Không dưng cả bọn bồn chồn
Giành đường chạy thiếu thở dồn đằng tai.
Chỉ là ốc, dùng gai bưởi lể
Chấm mắm gừng, khó dễ chi mô
Bâu đen bâu đỏ hô hô… nói cười.
Rổ ốc khiến, tình người khắng khít
Hương bưởi làm, hào kiệt nhớ quê
Những lừ, chúm, đó… nhớ ghê
Lời bà ru cháu, mẩn mê tiếng cười…
Chỉ rổ ốc, khiến người xa xứ
Chạnh nhớ quê… nhớ đứ… nhớ đừ !
(1). Chúm: kêu “chúm” mới đúng chứ không phải “trúm”. Chúm giống như lờ, đó, đăng v.v. là loại ngư cụ dùng để đánh, bắt cá. Chúm thường được đan bằng các nan tre có hình ống (cũng có 1 số nơi làm chúm bằng ống cây nứa, bây giờ về quê thấy chúm được làm bằng cái ống nhựa Bình Minh, ưu điểm của cái ống nhựa là dễ rửa và rửa sạch mùi nên dù cá, lươn có dzanh khôn cỡ nào cũng không phát hiện ra bẫy), một đầu to có đường kính chừng 10 – 15cm và đầu kia được buộc túm lại (kêu chúm, chụm là thế). Chúm dùng để bẫy cá, bẫy lươn, khi đánh thường được thả ở chỗ cá, lươn hay đi lại. Miệng chúm được cài bởi một cái nắp bằng nan tre có hình dạng như cái phểu, rất mềm. Cái nắp chúm này có tác dụng như cái khóa, cái cánh cửa nhà giam… cá có thể chui vào mà không thể chui trở ra.
Cái đó, dụng cụ dùng bắt, bẫy cá xưa
(2). Chỗ nước chảy: tức chỗ nước thường chảy từ ruộng lớn này sang ruộng lớn khác, đây là chỗ cá thường qua lại, rong chơi. Lợi dụng quy luật này, người nông dân liền đắp ngăn lại, phía sau đó đào một cái lỗ cạn… cá theo thói quen bơi đến thấy bờ đị ngăn nên dụng hết 10 phần công lực nhảy qua bờ… không ngờ nhảy vào cái hố (cái bẫy) người nông dân đã đào sẵn.
(3). Lá đu (xoan) nhử ốc, tép hồ dùng the tức muốn bắt ốc, nhử ốc thì dùng ít lá cây đu (quê tôi gọi là đu, 1 số địa phương phía Bắc gọi là xoan, miền Trung, miền Nam gọi là cây sầu đâu thì phải) sau đó bẻ gập lại cuốn như bó lá xả bán ngoài chợ xong đem thả xuống góc ao, thả xuống đồng chỗ nước sâu cho ốc lại ăn (không hiểu sao lá đu độc vậy mà ốc lại ham ăn luôn á)… Sáng hôm sau, mò dưới chỗ lá đu ấy, giống hệt đám nghiện thuốc phiện, ốc say nằm có đầy mặt ruộng; tép sống ở hồ (hồ rộng hơn ao) thường tép to và trắng muốt. Muốn bắt tép ở hồ thường phải dùng cái te (không biết mơi khác gọi te là cái gì). Các bạn cứ hình dung cái vó như thế nào thì cái te nó y hệt thế, khác chăng cái te không có sào (cây gậy tre dài ới là dài, dài gấp đôi cái cây gậy dùng múa võ. Sào dùng để kéo vó) và nhỏ gấp mấy chục lần cái vó. Te thường được làm bằng tấm vải màn (mùng), thường người ta sẽ nấu 1 ít hồ, trét lên mặt miếng vải màn để nhử tôm tép lại ăn, khi hồ hết, có thể rang thính bằng gạo thơm để nhử.