1235 – Cát Bụi !
Xuất bản vào 07:52:31 13/07/2018
Đời vốn dĩ, chỉ là cát bụi
Cửa Phật kêu, trần trụi… “vô thường”(1)
Đông – Tây, Nam – Bắc, tứ phương
Ở đâu cũng lấy làm giường, làm cương.
Phàm cát bụi, “phi thường”… vẫn bụi
Muối ngàn năm, vẫn muối chả hơn
Đến ngay cả dãy Trường Sơn
Ngộ phường bạc ác(2) ngậm hờn, chẳng phô.
Biển vẫn sóng, cũ xô sóng trước
Cát vẫy vùng, lúc được lúc không
Anh hùng đầy dẫy chiến công
Hết thời lại để cháu không đất thờ (!).
Khôn cũng chết, dại khờ cũng chết
Lưu danh ư ? Rõ mệt… ảo danh !
Tài như Quản Trọng, Yến Anh(3)
Ức Trai – Nguyễn Trãi chanh bành thấy không ?
Ngay tổ quốc, “Thành đồng lũy thép”
Cũng bao phen, tròn – lép nọ kia
Hùng – Tài (?!) cứ vậy phân chia
Cuối cùng khốn nạn thuộc dzìa… nông phu !
Lười cũng chết, cần cù cũng chết
Từ xưa giờ, một “nết” chẳng sai
Tiểu nhân – Quân tử, Hiền – Tài
Cù lần – Khôn lỏi nào ai… khác vầy.
Phàm cát bụi, tới ngày ắt “biến”
Ảo danh thời, “lưu” khiến hổ thêm
Sao không chọn cách ấm êm
Ghét, ghanh, đố, kỵ chỉ thêm muộn phiền.
Sao cứ chọn, lắm tiền mới thích
Người với người, đâm chích sao đang
Sao không bắt chước Lão, Trang(4)
Sống vui trọn kiếp chẳng đàng hoàng a ???
Đời vốn dĩ, chỉ là cát bụi
Lợi – Danh gì, phút cuối… cũng “VÔ”
Bại – Thành… chẳng rõ, xuống mồ… trắng tay !.
(1). Vô thường (無常): Theo triết lý nhà Phật, vô thường nghĩa là “không chắc chắn”, “thay đổi”, “không trường tồn”. Tức không có sự vật nào mãi mãi ở yên trong một trang thái nhất định mà luôn luôn thay hình đổi dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã. Các giai đoạn thay đổi đó, trong đạo Phật gọi là: sanh, trụ, dị, diệt. Tất cả các sự vật trong vũ trụ từ nhỏ như hạt cát, đến lớn như trăng sao, đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy cả. Ngay đến những suy nghĩ lăng xăng lộn xộn mà ta cho là tâm mình thực ra đó chỉ là tâm hư vọng, không phải là tâm chân thật. Vì là hư vọng nên nó cũng bị luật vô thường chi phối, sanh diệt trong từng sát na (khoảnh khắc). Tâm niệm của chúng ta thay đổi trong từng phút giây, theo ngoại cảnh. Chúng ta buồn đó rồi vui đó, thương đó rồi giận đó. Phút trước ta nhớ chuyện này phút sau đã quay sang chuyện khác… cho nên trong kinh nói “tâm viên, ý mã” là vậy.
(2). Bạc ác: chỉ sự tàn phá của con người. Theo sử sách, dãy Trường Sơn xưa vốn là dãy núi rừng điệp trùng, hùng vĩ. Thế nhưng, chỉ tính riêng chiến dịch Ranch Hand là một chiến dịch của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam, thực hiện việc rải chất độc hóa học xuống các khu rừng Trường Sơn nhằm triệt hạ khả năng ngụy trang và ẩn náu của lực lượng Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam khiến nhiều cánh rừng trở nên xơ xác, nhiều cánh rừng mặc dù chiến tranh đã chấm dứt cách nay hơn 40 năm nhưng do nhiễm chất độc của Mỹ thả vẫn không có khả năng phục hồi. Các loại chất độc hóa học được sử dụng trong Chiến dịch Ranch Hand (giai đoạn 1961 – 1971), đặc biệt là chất Da cam đã để lại những hậu quả nặng nề đối với môi trường và sức khỏe con người. Khoảng gần 80 triệu lít chất khai quang – diệt cỏ đã được rải xuống Việt Nam trong giai đoạn 1961 – 1971, trong đó riêng chất Da cam là gần 44 triệu lít. Theo lời Thượng nghị sĩ Mỹ Gaylord Nelson, bình quân mỗi người ở Việt Nam, kể cả phụ nữ, trẻ em, phải hứng chịu 6 pounds (gần 3 kg) chất độc hóa học do Mỹ rải xuống.
(3). Quản Trọng, Yến Anh:
– Quản Trọng người thời Xuân Thu (chữ Hán: 管仲; 725 TCN – 645 TCN), họ Cơ, tộc Quản, tên Di Ngô (夷吾), tục gọi Quản Di Ngô hay Quản Tử (管子). Là chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng của Trung Quốc thời Xuân Thu, được Bảo Thúc Nha (鲍叔牙) tiến cử với Tề Hoàn công và được vua Tề phong làm Tể tướng. Ông nổi tiếng với chiến lược “không đánh mà thắng” là chiến lược mà người Trung Hoa xưa gọi là “Diễn biến hòa bình”, đó là tấn công bằng mưu trí để trừng phạt và dùng kinh tế để giáo huấn. Dưới thời của Quản Trọng nước Tề trở thành nước hùng mạnh nhất và Tề Hoàn công được tôn làm đứng đầu Ngũ bá.
– Yến Anh (晏嬰; sinh năm 578 TCN, mất năm 501 TCN) còn gọi là Án Anh, người Sơn Đông, tự Bình Trọng, một nhân vật lịch sử sống và làm quan hai triều vua Tề Trang công và Tề Cảnh công thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người có trí tuệ thông minh kiệt xuất, một vị quan tài ba của nước tề. Ông không chỉ có tài xử thế mà còn có tài ứng xử, đối đáp và ngoại giao rất tốt.
(4). Lão, Trang: là 2 nhân vật lịch sử
– Lão Tử (chữ Hán: 老子) là một nhân vật sống ở thế kỷ VI TCN, tác giả sách Đạo đức kinh (道德經) – cuốn sách của Đạo giáo có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội TQ và một số nước khác. Lão Tử được hậu thế tôn xưng là Khai tổ của Đạo giáo (Đạo tổ 道祖). Cuốn Đạo Đức Kinh, là một trong những cuốn chuyên luận đáng chú ý nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc. Là kiệt tác được cho là của ông, đụng chạm tới nhiều vấn đề của triết học trong quan hệ giữa con người và thiên nhiên, “người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên”, rằng con người cần sống hòa hợp với thiên nhiên và tạo hóa, tuân theo quy luật của thiên nhiên, tu luyện để sống lâu và gần với Đạo.
– Trang Tử: Trang tử, người đất Mông (đất Mông được xác định nằm trong đất Tống, thuộc tỉnh Hà Nam – Trung Quốc ngày nay), tên Chu, làm quan lại ở Vườn Sơn (Tất Viên). Trang Tử là một trong những nhà tư tưởng đặc biệt vào loại hạng nhất thời ấy, tương truyền ông rất giỏi kể chuyện, có sức tưởng tượng vô cùng phong phú. Trang Tử là tác giả bộ Nam Hoa kinh gồm hơn mười vạn câu (thập dư vạn ngôn) để châm biếm cái học của Khổng Tử và xiển minh học thuật của Lão Tử. Miêu tả tính chất thoát tục của Trang, Sử ký Tư Mã Thiên có đoạn viết: “Uy vương nước Sở nghe nói Trang Chu là bậc hiền tài bèn sai sứ đem vàng lụa đến mời đón hứa cho làm tướng. Trang Chu cười nói với sứ giả rằng: “Nghìn vàng là lợi to, khanh tướng là ngôi quý đấy. Nhưng ông không thấy con bò lúc tế giao hay sao? Nó được ăn mấy năm, được mặc đồ vóc thêu để đưa vào nhà thái miếu. Lúc bấy giờ, muốn làm con lợn nhỏ có được không ? Ông đi ngay cho, đừng làm bẩn đến ta. Ta chỉ chơi đùa trong nơi ngòi vũng để tự vui, không để cho kẻ có nước trói buộc, trọn đời không ra làm quan để thoả chí ta.”
Chí khí của bậc hiền triết Trang Tử cũng giống như căn bản nền tảng tư tưởng Đạo gia: ẩn dật mà khoáng đạt, quay trở về cuộc sống hòa hợp với tự nhiên, không muốn tham dự vào tranh quyền đoạt lợi, xa lánh những hệ lụy cuộc đời.