1673 – LẠY “CỤ” !

Xuất bản vào 02:16:44 25/08/2019


Đền thờ Thiều Thốn tại núi Đào Sơn (Đông Tiến, Đông Sơn, Thanh Hóa)

 

Đêm khuya lướt web chợt nghe giọng ông Thieu Hao (nguyên văn): “Ô thế Phạm ngũ lão, Hồ quy ly … không phải là phò mã nhà Trần à, tôi đang nhờ Trương hoàng Tuấn tra cứu lại các tư liệu ở thư viện nhưng chưa tìm thấy thông tin về hộ Thiều ta cả như: nguồn gốc, điểm đi cư, chỉ biết qui nạp thì họ Thiều nhóm máu O nhiều nhất”.

Gửi ông Thieu Hao !

Xưa các cụ có câu: “Biết thì thưa thớt, không biết thì dựa cột mà nghe” !

Để nói sơ cho hiểu này:

Tổ tiên Hồ Quý Ly là con nuôi của họ Lê nên mới có cái tên Lê Quý Ly. Lê Quý Ly làm quan lên đến cực phẩm là nhờ có 02 người cô ruột đều làm cung phi của Vua Trần Minh Tông là bà Minh Từ Hoàng thái phi (sau sinh ra Trần Nghệ Tông) và bà Đôn Từ Hoàng thái phi (sinh ra Trần Duệ Tông). Một người làm quan lại được “nội” ứng lớn như vậy do đó mới được Trần Nghệ Tông khi mới lên ngôi đem em gái mới góa chồng là Huy Ninh Công chúa gả cho. Làm quan đến cực phẩm (Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên trung Vệ quốc Đại vương, đeo lân phù vàng) mà được gả cho một gái nạ dòng, gái góa (Huy Ninh Công chúa) thì có gì để oai, để oách, oách chỗ nào ? Oách sao bằng người áo vải xuất thân từ nông phu họ Thiều tên Kim Thốn ???

 

Tượng Thiều Thốn và Công chúa Trần Ngọc Chiêu trong đền thờ   

 

Đấy, đấy chính là luận cứ để con cháu dòng họ Thiều chúng ta có thể vỗ ngực tự hào về đức đệ tam tổ Thiều Thốn (còn gọi là Thiều Kim Thốn), một người áo vải nhưng bằng tài năng, đức độ của mình đã thu phục được lòng tin yêu của các vua Trần, được vua Trần phá lệ của tổ tông gả công chúa cho ngài và tin tưởng giao cho trọng trách phòng giữ biên ải (riêng về đức độ của đức ông Thiều Thốn, ông nên đọc lời bàn của sử Thần Ngô Sĩ Liên về đức ông trong Đại Việt sử ký Tiền biên. Dưới con mắt của nhà sử học, Thiều Thốn là biểu tượng của một vị minh quân, là điển hình của thuật dụng “nhân” trị quốc, thu phục lòng người – xin coi lời bàn được chụp trong ảnh dưới kia).

 

 

Lại nói về ông Phạm Ngũ Lão, Phạm ngũ lão lấy công chúa hồi nào mà ông cũng liệt, cũng kể vào đây ?

Phạm Ngũ Lão là công thần nhà Trần, trong công cuộc chống Nguyên Mông, theo các nhà sử học đánh giá, đạo đức và uy tín cũng như công trạng của ông chỉ sau Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Thân làm đến Điện Súy Thượng tướng quân và tuy được Trần Hưng Đạo gả con gái cho đấy, nhưng phải nói lái với vua, với triều đình rằng đi đấy là con gái nuôi chứ không phải con ruột, con đẻ… của mình.

Nên nhớ, do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn không phải là vua do vậy, con gái của ngài, bà Anh Nguyên đương nhiên cũng không phải là công chúa nhé ! Vậy người xưa gọi họ (bà Anh Nguyên) là gì? Đấy là Quận chúa Anh Nguyên rõ chưa nào.

Còn vì sao lại có chuyện phải không gả con gái cho người ngoại tộc như vậy?

Vì nhà Trần do cướp ngôi từ nhà Lý nên để tránh cái việc hậu họa sau này, nhà Trần mới đề ra cái luật chỉ gả con gái trong dòng tộc, không gả ra ngoài.

Thế nhưng, sự đời thì không ai tính được. Trần Cảnh (chính xác là mưu của Trần Thủ Độ) cướp ngôi nhà Lý từ Lý Chiêu Hoàng thì sau này, ngôi Nhà Trần cũng rơi vào tay người khác giống y như cái cách mà nhà Trần đã làm. Chuyện này nó ứng vào cái lời nguyền của Lý Huệ Tông khi bị Trần Thủ Độ ép tự sát vào năm 1226. Trước âm mưu nhổ cỏ phải nhổ tận gốc của nhà Trần, trước khi chết, Lý Huệ Tông đã phát thệ: “Thiên hạ nhà ta đã bị mày cướp mất (chỉ Trần Thủ Độ), nay lại còn hãm hại ta, mai sau con cháu nhà mày cũng phải chịu như thế”.

Nói thêm chỗ này tí để cho ông đỡ mù mờ nhé:

Chuyện trên kia có thực hay không nhưng theo chính sử thì cuối thế kỷ 14 thì vua Trần Thuận Tông đã phải rơi vào cảnh hệt như Lý Huệ Tông. Năm 1398, Hồ Quý Ly ép Thuận Tông ngường ngôi cho Thái tử Trần An với cớ Thuận Tông có vấn đề về thần kinh, lên làm Thái thượng hoàng và khuyên ông đi tu theo Đạo giáo, giống như Huệ Tông sau khi bị bệnh về thần kinh bị người nhà Trần ép phải nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng. Chiếu nhường ngôi của Trần Thuận Tông viết: “Trẫm trước vốn mộ đạo, không có bụng làm vua, không có đức mà tạm giữ ngôi thực khó làm nổi. Huống chi bệnh thần kinh thường phát ra, thờ cúng và chính sự đều không làm được. Lời thề nguyền trước trời đất quỷ thần đều nghe. Nay nên nhường ngôi để vững nghiệp lớn, hoàng thái tử Án có thể lên ngôi hoàng đế. Phụ chính thái sư Lê Quý Ly là quốc tổ nhiếp chính. Trẫm tự làm thái thượng nguyên quân hoàng đế, tu dưỡng ở cung Bảo Thanh để thỏa chí xưa”.

Tháng 4, năm 1399, Hồ Quý Ly ép Thuận Tông phải đi tu đạo ở quán Ngọc Thanh, thôn Đạm Thuỷ. Quý Ly ngầm sai nội tẩm học sinh Nguyễn Cẩn đi theo để trông nom coi sóc. Thuận Tông hỏi Cẩn: “Anh đi theo ta, ý muốn làm gì?”. Cẩn không nỡ nói rõ. Quý Ly làm thơ bảo Cẩn rằng: “Nếu nguyên quân không chết, thì nhà ngươi phải chết”. Cẩn dâng thuốc độc, Thuận Tông không chết, lại dâng nước dừa và không cho ăn, cũng không chết. Quý Ly bèn sai Xa kỵ thượng tướng quân Phạm Khả Vĩnh đem thắt cổ cho chết.

Đấy, đọc đến đây tôi không biết ông đã hiểu chưa? Nhưng tôi có 1 thắc mắc hình như ông ăn phải cái gì mà cay cú với dòng họ Thiều ta thế? Hay nhẽ là người khác họ xưa vì đói kém mà nương tựa vào dòng họ Thiều ta chăng? Hay do ganh ghét việc con cháu góp tiền xây đền và vô thắp nhang cho ông ở trong núi mà không ghé thắp nhang chỗ nghè Tam Tổng, nơi thờ ngài hiện do BQL di tích và UBND xã chịu trách nhiệm quản lý chăng ???

Thưa ông Thieu Hao, tôi nói tuy hơi quá, có gì mong ông thông cảm nhưng tôi cũng phải thành thật, thẳng thắn nói với ông 1 lời rằng: Qua theo dõi những gì ông nói, ông commen (bình luận) trong các bài viết liên quan đến dòng họ thực sự không có sự chân thành, không có tính đóng góp, xây dựng mà toàn viết, nói những lời lẽ mang tính đâm bị thóc chọc bị gạo, bới móc… với giọng điệu cay cú, chấp vặt của một kẻ tiểu nhân.

Mấy hôm trước, cũng với giọng lưỡi đâm thọc khi ông nêu thắc mắc về chuyện 4 con rồng ở trong đền đức ông tại núi Đào, tôi cũng đã nghi nghi nhưng thấy có người giải thích cặn kẽ rồi, nên không tiện tham gia. Vào đêm khuya hôm kia (22/8) tôi lại thấy ông vào truy vấn (nguyên văn): “Năm 1365, nhà minh đanh đánh nhà nguyên (Trung Quốc) thì làm gì có giặc phương bắc nhà Trần đến thời trần dự Tông là suy rồi không còn anh minh nửa nên giặc chiêm thành đêm quân đánh phá thôi, không có giặc phương bắc, lại …chuyện”

Đọc mấy dòng commen của ông, một người rất thích thắc mắc về lịch sử nhưng lại mù mờ chẳng biết lúc nào là lúc có giặc, lúc nào là lúc không, khiến tôi cười đến phọt cả nước miếng. Về chuyện này, ông đã nói thế thì cũng xin được trao đổi như này (nói sơ thôi nhé, vì khuya quá rồi):

Vào những năm Nguyên mạt Minh sơ, cụ thể là từ lúc Minh Thuận đế kế vị (1341) bấy giờ gian thần chuyên quyền, quan lại tham ô, trong khi thiên tai, lũ lụt triền miên, dân tình điêu linh thống khổ… dẫn đến việc nông dân ở khắp nơi nổi lên chống đối nhà Nguyên.

Cuộc khởi nghĩa chính thức khởi động là vào tháng 5/1351 (khởi nghĩa này được sử ghi là khởi nghĩa Hồng Cân vì họ dựng cờ đỏ, đầu đội khăn đỏ) lúc đầu là do các giáo chủ các tôn giáo như Minh giáo, Di Lặc giáo, Bạch Liên giáo phát động, về sau được sự hưởng ứng của nông dân khắp nơi trong cả nước… Tuy là chống nguyên nhưng do bất đồng và vì nhiều lý do nên các thế lực thực hiện sách lực “vừa đả chính quyền của Nguyên Mông vừa đả ta” nên cuối cùng, chỉ còn lại 03 quân phiệt mạnh nhất đấy là Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng và Trương Sỹ Thành.

Vào 1360, với việc giết chủ tướng Từ Huy Thọ, Trần Hữu Lượng thành lập nước Đại Hán (niên hiệu Đại Nghĩa) và xưng Hoàng Đế nên mâu thuẫn Trần – Chu càng trở nên gay gắt. Hai thế lực không ngừng tập kích lẫn nhau và vào năm 1363 Trần hữu Lượng bị Chu Nguyên Chương giết trong trận “Đại chiến hồ Bà Dương”.

Nói sơ thế để ông hiểu tại sao sử lại ghi “phía Bắc có loạn” và việc triều đình xuống chiếu cho quân dân ở các vùng biên tái, các tỉnh phía Bắc nước ta tăng cường phòng bị. Nguyên có loạn thì Đại Việt tăng cường phòng bị hẳn cũng là cái lẽ đương nhiên phải nào. Bởi thế, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có viết Trần Hữu Lượng từng sai sứ sang hòa thân với Trần Dụ Tông, liên minh với quân Đại Việt chống Nguyên, tuy nhiên Trần Dụ Tông đã từ chối (nguyên văn):

“Giáp Ngọ, [Thiệu Phong] năm thứ 14 [1354], (Nguyên Chí Chính năm thứ 14). Mùa xuân, tháng 2, quan trấn giữ biên giới phía bắc cho chạy trạm tâu việc Trần Hữu Lượng nước Nguyên dấy binh, sai sứ sang xin hòa thân (Hữu Lượng là con Trần Ích Tắc)”.

 

 

Cũng theo Đại Việt sử ký:

Ất Tỵ (Đại Trị) năm thứ 8 (1365), (Nguyên Chí Chính năm thứ 25)… Mùa đông, tháng 11, xuống chiếu cho các quân Sơn Lão ở Lạng Giang trấn giữ biên phòng vì phía Bắc có loạn Minh Hán tranh nhau đóng quân ở Nam Ninh, Long Châu (xin coi hình phía dưới).

Cần nhớ 02 địa danh mà sử nhắc đến: “Minh Hán tranh nhau đóng quân ở Nam Ninh và Long Châu” đây là 2 địa danh đều thuộc tỉnh Quảng Tây mà tỉnh này là tỉnh tiếp giáp với tỉnh Cao Bằng của Việt Nam với tổng chiều dài đường biên giới dài đến 333,40 km, lớn nhất trong số 7 tỉnh của Việt Nam giáp Trung Quốc.

Thử hỏi, một quốc gia như TQ có loạn, mà cái “loạn” ấy nó lại đang diễn ra ngay gần sát với nước mình thì có nên cử quân lên biên giới để làm cái việc phòng bị việc giặc nhân bị truy đuổi mà vào cướp nước hay không ? Thiển nghĩ đọc đến đây, ông có thể tự hiểu thế nào là thuật ngữ “phòng bị” và chức “Phòng ngự sứ Lạng Giang” do đâu mà có, cũng như câu thắc mắc: “Năm 1365, nhà minh đanh đánh nhà nguyên (Trung Quốc) thì làm gì có giặc phương bắc nhà Trần đến thời trần dự Tông là suy rồi không còn anh minh nửa nên giặc chiêm thành đêm quân đánh phá thôi, không có giặc phương bắc, lại… chuyện” của ông rõ ràng là vô duyên, đúng phỏng? Ông đọc kỹ lại đi, thấy rõ là quá ngớ ngẩn phải không?

Phàm chuyện gì cũng vậy, trước khi nói cũng cần suy nghĩ, không nên nói cho sướng cái mồm. Và muốn nói gì, hỏi gì trước cũng nên xuất phát từ cái tâm, từ cái sự “cầu” được biết… nên cũng cần có thái độ khiêm cung và đặc biệt, có hỏi hay nêu những vấn đề gì, cũng nên… có sách. Sách tôi dùng để trả lời ông là những sách như ông thấy dưới đây.

Trân Trọng !.




Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM