Xuất bản vào 13:57:18 28/08/2019
HỌC MÀ VUI – VUI MÀ HỌC
Liên quan đến quần thể di tích Lịch sử văn hóa đền thờ tướng công Thiều Thốn tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa mà cụ thể có 03 địa điểm sinh hoạt tâm linh bao gồm: Nghè Tam tổng (thôn Triệu Tiền), Nghè Vường (xóm Tông) và đền thờ Thiều Thốn (núi Đào sơn, thôn Nhuận Thạch), có 01 bạn đặt câu hỏi đối với Admin như sau: “Em nghe nói ở núi Đào Sơn có đền thờ Tướng công Thiều Thốn nhưng cách đền không xa, tại thôn Triệu Tiền cũng có cái nghè gọi là nghè Tam Tổng, được biết ngôi nghè này cũng thờ Tướng công Thiều Thốn… cho em hỏi nghè là gì ạ ?”

Xét thấy đây là câu hỏi cũng rất thú vị vì có rất nhiều người 1 tháng đều như chanh vắt, cứ ngày sóc ngày vọng thì đi lễ đền, chùa, miếu mị nhưng không phân biệt được sự giống và khác nhau giữa giữa đền và chùa, giữa đền với nghè…, và cũng chỉ biết cúng, biết vái chứ không chắc hiểu hết được ý nghĩa, vai trò cũng như quyền năng của các vị thần thánh được thờ cúng.
Dưới đây xin trả lời thắc mắc của bạn như này:
Nghè cũng giống như đền nhưng thường có quy mô nhỏ hơn. Hiểu nôm na nghè là sư đệ (độc lập và ngang hàng) hoặc là đệ tử của đền hjhj.
Đền hay nghè là nơi thờ các vị thần thánh, các vị là người thực việc thực nhưng có đức hạnh cao quý, những người có công với nước với dân được các triều đại trước (vua) sắc phong thần và lệnh cho cư dân quanh vùng có trách nhiệm quanh năm hương khói, nhằm tỏ cái lòng ngưỡng vọng, sự tri ân của triều đình, của nhân dân đối với các vị, cũng như nhằm giáo dục truyền thống đạo lý “Ẩm thủy tri nguyên – Uống nước nhớ nguồn”, một đạo lý mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Đền với nghè là địa điểm, nơi sinh hoạt tâm linh trong đời sống thường nhật. Có nơi, nghè được dựng lên có chức năng giống như miếu (sẽ đề cập đến ở một bài viết sâu rộng hơn) tức chỉ dùng để thờ thần hoàng của làng, xã.
Vì đôi khi được tách ra từ đền thờ gốc nên nghè thường có quy mô nhỏ hơn đền. Ví dụ: Ở Tp.Tuy Hòa (Phú Yên), đây là nơi phố thị, nơi cư dân tập trung đông đúc và là nơi có nhiều bà con dòng họ Thiều sinh sống, nếu có nhu cầu và được nhà nước cho phép, ta có thể xây một đền thờ thờ Tướng công Thiều Thốn. Thế nhưng, tuy cũng được nhà nước cho phép, cũng có nhu cầu thờ cúng nhưng ở huyện Đông Hòa (cũng thuộc Phú Yên – ví dụ thôi) do bà con thân tộc của dòng họ ít, phần dân cư thưa thớt, phần kinh tế trong vùng lại eo hẹp, khó khăn v.v. ta cũng có thể xây dựng một cơ sở thờ tự để đáp ứng nhu cầu tâm linh của mọi người (chỉ cốt có điểm sinh hoạt tâm linh) và do quy mô không lớn như đền thờ gốc ở xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa thì được gọi là… nghè.
Vấn đề đặt ra là… nếu ta cứ gọi bằng đền được không?
Về pháp lý, tuy pháp luật không cấm và cũng không có quy chuẩn nào để phân biệt nhưng bản thân chủ cơ sở thờ tự, các Ban cán sự hoặc Hội đồng trị sự của các dòng họ cũng có thể tự hiểu công trình mình là đền hay… nghè đúng phỏng ?
Nhân chuyện này, cũng xin được nhắc lại 1 mẩu chuyện vui. Chuyện xảy ra cách nay cũng vài chục năm tại xã Đại Cường, huyện Đại Lộc (Quảng Nam), ấy là hồi nhà nước có quy định mỗi gia đình chỉ đẻ 1, đến 2 con. Ai đẻ con thứ 3 sẽ… bị phạt. Chuyện kể rằng: ở một xã ấy có vợ chồng 1 lão nông phu vì không đi họp xóm nên không biết cái quy định trên của nhà nước. Một bữa, vợ lão trở dạ sinh đứa con thứ 3, khi lão lên xã làm khai sinh cho con thì cán bộ bên hộ tịch thông báo lão phải đóng phạt 2,500đ. Hỏi thì cán bộ giải thích can tội đẻ nhiều, đẻ con… thứ 3. Quá uất ức, sau khi đóng phạt, lão trở lại chỗ làm thủ tục đăng ký giấy khai sinh cho con, cán bộ xã hỏi:
– Bác đặt tên cho cháu là gì ?
Đang sẵn tức giận, lão thét:
– Mai Phạt Sáu Nghìn Rưỡi !
Nghe cái tên lạ hoắc lạ huơ, cán bộ xã ra sức thuyết phục nhưng lão nông họ Mai không chịu, cương quyết đặt tên cho con với họ là Mai, tên… Phạt Sáu Ngàn Rưỡi.
Phần không có quy định nào cấm cản, phần không đủ lý lẽ để phân tích cái sự hay dở… nên cuối cùng, ông cán bộ xã đành ghi vào giấy khai sinh của quý tử nhà họ Mai.
Suốt những năm học phổ thông, Mai Phạt Sáu Nghìn Rưỡi học rất giỏi nhưng khi vào ĐH, cậu liên tục bị bạn bè chêu chọc do có cái tên quá “độc” thành thử, phải mất đến 6 năm chàng sinh viên người họ Mai mới ra được trường. Chuyện chưa kết thúc ở đây, tuy tốt nghiệp kỹ sư điện ra trường và mặc dù ngành điện là một ngành nghề tương đối hot nhưng, hễ cầm hồ sơ xin việc của Rưỡi, cán bộ tuyển dụng các công ty cứ ôm bụng cười ngoặt nghẽo, rồi lắc đầu trả hồ sơ…
Biết cái nỗi khổ của con và nhận thấy nguy cơ đói nghèo của nó là do mình tự dựng, lão nông họ Mai mới cầm hồ sơ của con đến ngồi ở bậu cửa phòng làm việc của vị Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Nhờ kiên trì, nhẫn nại kêu khó, kêu khổ cùng với sự cảm thông, chia sẻ của các cơ quan truyền thông, báo chí… nên cuối cùng, Mai Phạt Sáu Nghìn Rưỡi đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định cho đổi tên lại thành Mai Hoàng Long (cái này nếu các bạn không tin, có thể trích xuất thông tin trên mạng, chắc bài viết vẫn còn vì sự việc can thiệp đổi tên á, mới xảy ra cách nay chừng mươi năm thôi). Hiện anh Mai Phạt Sáu Ngàn Rưỡi đang làm việc ở một công ty lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Quay trở lại vấn đề.
Danh từ nghè “Tam Tổng”, nơi thờ Tướng công Thiều Thốn và công chúa Trần Thị Ngọc Hải (tên khác là Ngọc Chiêu) tại thôn Triệu Tiền (xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) có được là vì đức ông nguyên là Phò mã triều Trần, lại là người có công lớn với dân với nước nên được các triều trước sắc phong là “Thượng đẳng phúc thần Đại vương” và lệnh cho nhân dân 3 Tổng (đơn vị hành chính trên xã dưới huyện xưa) có nhiệm vụ hương khói.
Câu hỏi tiếp theo ở chỗ này là “Với công trạng và vị thế của đức ông Thiều Thốn, tại sao lại không có đền mà chỉ có nghè.
Xin thưa như này, nguyên trước kia, sau khi mất đền thờ Thiều Thốn được xây dựng với quy mô rất hoành tráng tại chân núi Bạch Tượng, tức ngọn núi đầu tiên trên đường vào lăng ông bây giờ (cách núi Đào sơn 600m). Theo các tài liệu cũ, đền thờ Tướng ông từng được Đăng Quận Công Nguyễn Khải, còn gọi là Quận Khải, người ở Kẻ Bôn (xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa bây giờ), con trai của Thái bảo Đông các Đại học sĩ, Lê triều Lại bộ Tả thị lang Nguyễn Văn Nghi cho trùng tu vào đầu thế kỷ 17 (hiện vẫn còn nhiều dấu tích của đền xưa như nền móng, chân tảng, hồ… ).
Như trên kia đã nói, nghè đôi khi là người anh em song sinh, là đệ tử của đền…Lại trải qua quá trình lịch sử khá dài cho nên, vì nhiều nguyên do khách quan, chủ quan tỉ như thiên tai, chiến tranh v.v. nên ngôi nghè “Tam tổng” đã được dựng lên nhằm tỏ lòng ngưỡng vọng, sự tri ân của triều đình, của nhân dân quanh vùng đối với đức ông Thiều Thốn.
Cũng xin đưa ra một chi tiết dưới đây, để biết rằng cơ sở thờ tự có tên gọi là nghè Tam tổng được lập vào thời Lê (cái này cũng thể hiện rất rõ trong văn bia “Đông Sơn huyện Thiều Thốn từ bi”, văn bia do Kim tử vinh lộc Đại phu, Tả Thị lang Bộ Hình, Lộc Diên hầu Nguyễn Công soạn vào năm 1650, niên hiệu Khánh Đức, vua Lê Thần Tông trị vì).
Vì sao, vì theo các văn bia còn tồn tại, “Tổng” có có từ thời Lê sơ , điển hình: “Tự điền bi ký” lập năm 1471 tại xã La Khê, Vũ Thư (Thái Bình) và bia “Công Chủ tự điền” lập năm 1513 ở đền Vũ Bị (Bình Lục, Hà Nam) đã thấy nhắc đến cấp tổng… chứ không phải có từ thời Nguyễn như một số người nhận định.
Trân trọng !
Tp.HCM, ngày 27.8.2019
Người Họ Thiều.