Xuất bản vào 13:52:43 04/05/2020

Cô Thiều Thị Thúy (Họ Thiều Hưng Yên) hỏi:
Người Họ Thiều có biết ?
Có một bác, tên Sơn đệm Ngọc
Phận hưu rồi, lại học trồng rau
Thỉnh thoảng đi kiếm phân trâu
Mang về đào hố vùi sâu đợi ngày.
Phân hoai mục, đem ngay ra bón
Cho luống khoai, nhanh lớn củ to
Cà chua bầu bí reo hò
Có phân hoai mục, trái to ngọt lành ?
TRẢ LỜI:
Hỏi hay đấy, cô Thiều Thúy ạ
Lão Ngọc Sơn, đâu lạ lẫm chi
Lão này, khi chửa, thoát ly
Người “Hoa Thanh Quế”[1], nghệ thì…, Nông fu.
Nhỏ thời cũng, chăn tru [2], đánh khẳng [3]
Nước da đen, người lẳng nhẵng gầy
Cặp mông, đắp miết, chẳng dzầy
Nhật thường, lấy chuyện cuốc cày…, mưu sinh.
Lúc Tàu “Cộng”, sang mình, xâm lấn
Hẵng trẻ con, nhưng hấn[4]… đòi đi
Mẹ gàn, quân nít [5] biết chi
Phải ba bốn lượt “can” thì…, lão thôi ! Kkk

Và đúng dịp, “tuổi tôi mười tám”
Quyết ra đi, chẳng “lạm” cầu sinh
Những mong góp tị [6], sức mình
Giữ cho, “thế thái nhân tình”… bình an.
Cuối Kỷ Hợi, nhân làn, tóc bạc
Biết ngày về, “cõi hạc” chẳng xa
Vậy là, lão gọi, Shaojia
Sợ nên vội trở, về nhà…, trồng rau.

Đêm lão chỉ, trông mau, trời rạng
Dậy lúc còn, bảng lãng mù giăng
Ra đồng, hễ thấy, mặt trăng
Nằm im dưới đất, dự rằng…: cứt trâu (tru)
.
Hốt về để, “dãi dầu sương gió” ?!
Ủ ba tuần, sau đó, đem xài
Cứt tru, niềm “ước”, bụi nhài
Bí bầu có tị, tương lai, rạng ngời
.
Cổ ngôn bảo: Còn “thời” cỡi ngựa
Nhược hết thời, cột tựa… bắn ruồi !
Mảnh vườn không những, đủ nguôi
Thế gian chi sự, còn nuôi… mộng giàu
.
Thối hưu học, trồng rau, nuôi cá
Hốt cứt trâu, cũng chả lạ gì
Vậy mà, giặc đến… lại đi
Hơi tàn, cố gặt “vinh quy”… đem về !

Nam tử Việt, một bề [7], rứa cả
Riêng gì dzai, sông Mã, sông Chu
Cầm đao, khi nước, ngộ thù
Giặc tan, về hốt, cứt tru… nhẽ thường !.
Xứ Thanh, ngày 4.5.2020
Người Họ Thiều.
———————
Chú thích:
[1]. “Hoa Thanh Quế”, cụm danh từ tức quê Thanh Hóa, nói lái.
[2]. Tru: tiếng người miền Trung gọi con trâu
[3]. Đánh khẳng: còn gọi khăng, một trò chơi dân gian rất phổ biến đối với trẻ nhỏ ngày xưa.
[4]. Hấn: tiếng địa phương tức hắn, gã ấy, lão ấy…
[5]. Quân nít: chỉ còn nhỏ, trẻ ranh.
[6]. Tị: lượng từ chỉ số ít, rất nhỏ, không đáng kể như tí tị, tí xíu, tí ti…
[7]. Một bề: tức giống nhau, không có sự khác biệt.