1941 – “THẦY” NÓI THẾ SAO ĐƯỢC !

Xuất bản vào 20:11:45 16/12/2020


Tên người hay tên địa danh các làng xã, không tự nhiên mà có.
Ngày xưa, tên người tuy không được cấp căn cước hay CMT chứng nhận như bây giờ nhưng khi đặt tên, dù xấu hay đẹp đều được bà con trong nội ngoại tộc và lân bang bản quán công nhận (thậm chí có dòng họ còn cẩn thận ghi cả vào gia phả). Tên địa danh cũng thế, giống bây giờ, nó phải được các cấp chính quyền ra quyết định công nhận hay quan lại đại diện cho Tri châu Tri phủ, Vua chúa sắc phong. Và cái chuyện vì sao lại đặt tên này mà không phải là tên kia… nó cũng có nguồn cơn, nguyên ủy. Lấy ví dụ, có chú bộ đội quê Thanh Hóa đi vào Nam chiến đấu (đi B), sau giải phóng, chú lấy vợ là người S’tiêng ở Bình Phước sinh được 1 trai, 1 gái. Nhẽ theo tập tục phải đặt tên con là Điểu nọ, Điểu kia nhưng chú lại đặt tên cháu là Thanh, con gái trên Trang. Đồng bào thắc mắc hỏi vì sao lại đặt tên Thanh và Trang, nghĩa của cái tên ấy như nào? Chú giải thích:
– Tên Thanh có nghĩa là thanh liêm, là thanh tịnh, trong sạch, thanh bình… và chữ Thanh ở đây là chữ đầu tiên của địa danh kêu Thanh Hóa “清化” quê hương chú. Chú muốn con cái sau này lớn lên, nhớ về quê cha đất tổ, nhớ cuội nguồn của mình là ở xứ Thanh và không quên giải thích rằng chữ Thanh, tên của thằng con trai là Thanh có 3 chấm của bộ thủy (清) chứ không phải chữ thanh (青) với ý nghĩa là thanh xuân, trẻ trung, tươi đẹp; cũng không phải chữ “thanh” (磬) trong thanh âm; chữ “thanh” (蜻) chỉ con chuồn chuồn (thanh đình) hay chữ “thanh” (圊) là cái nhà xí, toe lét, nhà vệ sinh xưa…
– Tên Trang chú đặt cho con gái là do quê chú thuộc xã Hoằng Trung (thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa), nhà chú ngày xưa ở cạnh cái ga xe lửa tên gọi ga “Nghĩa Trang” và không quên nhấn mạnh chữ “trang” (莊) ở đây là trang nghiêm, trang trọng. Chữ trang ở đây không chỉ gắn liền tên nhà ga xe lửa mà còn là tên của một ngọn núi gọi núi Trang hay “Trang sơn” (莊山) ở quê nhà. Chữ trang không phải trang (装) trong trang phục hay trang (妆) với nghĩa là của hồi môn, đồ trang sức của phụ nữ hoặc trang có bộ mộc chỉ cái cọc (桩).
Đấy, tên người, tên đất, tên địa danh của quê hương làng xã chỉ lướt qua ta đã thấy nó có những cái ý nghĩa rất nhân văn, thi vị.
Để đỡ mất thời gian, xin đi thẳng vào vấn đề. Mình làm cái Stt này thực chất để lý giải một câu chuyện liên quan đến tâm linh. Chuyện là hôm rồi, chi họ Thiều nhà ta ở thôn Văn Bắc, xã Đông Văn trong quá trình làm nhà thờ họ có nhờ 1 ông thầy đồ tên kêu Lê Bá T viết cho đôi câu đối bằng chữ Hán để treo trong bàn thờ tổ.
Nguyên 2 hàng chữ trong câu đối:
零气江山韶族五支生豪杰
根源得地欹厍福厚养人才
Dịch tiếng Hán Việt
Linh khí giang sơn Thiều tộc ngũ chi sinh hào kiệt
Căn nguyên đắc địa Y Xá phúc hậu dưỡng nhân tài.
Không bàn nội dung câu đối, chỉ bàn chỗ địa danh. Địa danh Y Xá mình không biết có từ khi nào nhưng qua nghiên cứu phát hiện cái tên Y Xá được viết bằng chữ Hán (伊 舍) xuất hiện chí ít cách nay cũng 201 năm. Theo sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của tác giả Phan Huy Chú, cuốn sách này được ông viết trong 10 năm (từ 1809 đến 1819) và sau khi trình lên, xét thấy tầm quan trọng của sách vua Minh Mạng đã lệnh cho khắc chữ, in và phổ biến vào năm 1821. Tại phần “Nhân vật chí”, mục “Tiết nghĩa chi thần” khi viết về nhân vật Thiều Quy Linh (韶龜齡), người đỗ Tiến sĩ trong khoa thi Ất Sửu (năm 1505, niên hiệu Đoan Khánh đời vua Lê Uy Mục nhà Lê sơ), Lại Bộ Tả thị lang, người sau này được các vua triều Nguyễn truy phong chức “Lại Bộ Thượng Thư” – “Mạ Tặc Tiết Nghĩa Tôn Thần”… thì mấy từ địa danh như Đông Sơn (東山), Y Xá (伊 舍) đã được tác giả ghi trong sách này rồi. Và qua nguyên cứu gia phả của dòng họ Thiều Việt Nam, gia phả của Đệ ngũ chi họ Thiều Đông Văn, chúng tôi cũng thấy 02 chữ Hán 伊 舍 (xin coi hình, chữ khoanh trong vòng tròn đỏ) tức Y Xá được viết lặp đi lặp lại nhiều lần.
Như trên kia đã nói, tên người hay tên địa danh không phải ngẫu nhiên mà có. Nó không chỉ có vị trí rất đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần mà còn rất quan trọng việc thờ cúng, tổ tiên ông bà (tâm linh). Do đó, tên người hay tên địa danh không thể tự tiện thay đổi. Con cháu không thể tự tiện thay đổi tên húy của cha mẹ, ông bà, tổ tiên trong lúc cúng giỗ, cáo tế trong các dịp lễ tết cũng như việc không thể cung cấp sai thông tin, địa chỉ về nơi mà mình tổ chức cúng thần, tạ tổ. Hậu quả của việc gọi sai tên người, báo cáo không đúng chủ là người “âm” không thể về để tham dự được. “Ăn có kêu” là câu nói ai cũng đã nghe, nghe rất nhiều. Trong trường hợp này, nó cũng giống như người mời dự dạ hội, dù người âm có về, cũng không thể vào dự tiệc với lý do không có giấy mời, không ai xướng tên; tương tự như vậy, việc viết sai địa danh làng xã, bản quán…, nó cũng chẳng khác mấy chuyện kia, thổ thần hay lính canh cổng cũng chẳng cho các ngài vào.
Đọc câu đối trên, tuy tên địa danh ở vế đối 2 dù vẫn đọc là Y Xá nhưng được viết với 2 chữ lạ hoắc (欹厍), không đúng với cái tên ghi trong gia phả (伊 舍) cũng như trong các văn bản, thư tịch cổ… Lấy điện thoại gọi xin trao đổi, ông “đồ” vùng vằng, nói có mấy chục chữ Y, mấy chục chữ Xá và khẳng định 2 chữ ông cho (欹厍) là đúng. Khi đưa bản ảnh chụp tài liệu gia phả, bản ảnh chụp phần chữ Hán trong sách “Lịch triều hiến chương loại chí” và khoanh đỏ cái chữ địa danh Y Xá cho ông coi, ông phán: “Vậy các anh cứ dùng chữ theo sách cho đúng với tên địa danh. Còn chữ tôi viết nghĩa là làng tươi tốt”. Ô hay, “thầy” nói thế sao được !?
Lời nhắn: Đành rằng chữ ông viết là đúng, suy nghĩ của ông là “hảo ý” nhưng ông quên mất cái hậu quả nhãn tiền của việc ông tự tiện dùng bút sửa địa danh theo “hảo ý” của mình là phải tốn tiền để đi làm lại câu đối khác. Và nếu không bị phát hiện, cứ thế mà thờ cúng thì hậu quả sẽ ra sao ? Và hậu sinh sau này sẽ nghĩ như thế nào về cái sự nhầm lẫn tai hại của ông cha chúng đây?
Trong dịch thuật, nhất là các văn bản, thư tịch cổ cần tham chiếu tài liệu, tiên phải tôn trọng tác giả, tác phẩm, không tự tiện dịch theo cái ý nghĩ chủ quan của mình. Nhầm lẫn trong dịch thuật cũng là chuyện được coi là bình thường do vậy cũng cần phải cầu thị, tiếp thu, lắng nghe các ý kiến phản hồi. Cổ nhân nói “Sơn ngoại hữu sơn – 山外有山” cũng cần lưu ý !.
Tp.HCM, ngày 10.12.2020
Thiều Ngọc Sơn



Câu lạc bộ Thái Cực Quyền Công Viên Gia Định - Số 3 đường Hoàng Minh Giám, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. HCM