Nghe đài báo ngoài ta ngộ bão
Chỉ bấy nhiêu lòng não dạ nề
Nghĩ giờ chắc cả làng quê
Chìm trong giông bão mà tê tái lòng.
Con thành phố nệm bông êm ấm
Một đời khổ với chồng con
Khổ vì thế thái lại còn bão giông ?
Nước ngập khiến cánh đồng bát ngát
Gió dập trầu mặn chát lòng cau
Bờ tre lặng khóc lỗi đâu phải bà !
Bão về khiến quê nhà xơ xác
Lợn với gà ngơ ngác hỏi trâu
Cả làng trắng xóa nước đâu ra nhiều ?
Bão về khiến tụy tiều thân Mẹ
Cả làng buồn riêng trẻ lại vui
Chống thuyền tam bản* ngược xuôi
Quăng chài kéo vó ngủ vùi thỏa thê…
Bão về khiến thôn quê xơ xác
Gió dập vùi tan tác ruộng nương
Quê nghe bão đến chán chường
Con nghe chỉ biết lặng thương… sao chừ !
* Thuyền tam bản: Thuyền tam bản (舢舨 – shānbǎn) hay còn gọi là thuyền ba lá (ngoài Bắc), trong Nam kêu xuồng ba lá. Ba lá là tên gọi dựa trên cấu tạo của loại thuyền được ghép bởi ba tấm ván gồm có hai tấm ván be và một tấm ván đáy.
Thuyền tam bản hay ba lá là một loại thuyền gỗ có xuất xứ từ Trung Quốc, thuyền có đáy tương đối bằng phẳng và dài từ 3,5 đến 4,5 m. Trên thuyền tam bản thường người ta có dựng những lán nhỏ làm nơi trú tạm trên sông nước. Thuyền tam bản từ lâu đã được sử dụng rộng rãi làm phương tiện vận chuyển ở các vùng ven biển và sông nước hay để đánh bắt cá. Thuyền tam bản ít khi đi xa ra biển vì chúng gần như không thể chống chọi được với điều kiện khắc nghiệt.
Thuyền tam bản ngày nay vẫn còn được sử dụng tại những nơi hẻo lánh của ta và một số nước khác như Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Camphuchia…