Xuất bản vào 16:14:59 29/03/2023
SẮC PHONG CỦA VUA TỰ ĐỨC DÀNH CHO ĐỀN THỜ THỜ CÔNG CHÚA TRẦN THỊ NGỌC HAI, VỢ CỦA TƯỚNG CÔNG THIỀU THỐN

Nguyên văn chữ Hán
敕皇月英鋪夫人元赠: “淑行芳姿” 等之神護國庛民稔著靈應節蒙颁給.
赠敕準許奉事肆今丕膺
耿命缅念神庥可加赠 “淑行芳姿娟静娴婉之神” 仍準東山縣趙舍趙舍前函夏三社依舊奉事.神其相佑保我黎民。
欽哉 !
嗣德参年拾贰月拾参日.
Nguyên văn Hán Việt
Sắc: “Hoàng nguyệt anh phô” phu nhân nguyên tặng: “Thục hạnh phương tư” đẳng chi thần, hộ quốc tí dân nhẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp.
Tặng sắc chuẩn hứa phụng sự tứ kim phi ưng.
Cảnh mệnh diến niệm thần hưu khả gia tặng “Thục hạnh phương tư quyên tĩnh nhàn uyển chi thần”. Nhưng chuẩn Đông Sơn huyện, Triệu Xá, Triệu Xá Tiền, Hàm Hạ tam xã y cựu phụng sự. Thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân.
Khâm tai !
Tự Đức tam niên thập nhị nguyệt thập tam nhật (1850).
Dịch nghĩa Việt văn
Sắc (lệnh): Đền thờ Hoàng nguyệt anh phô phu nhân (công chúa Trần Thị Ngọc Hai*, vợ của tướng công nhà Trần, đức ông Thiều Thốn) trước nay nổi tiếng linh ứng trong việc “phò trì xã tắc che chở muôn dân” đã được triều đình ban tặng mĩ hiệu “Thục hạnh chi thần”, “Phương tư chi thần”. Lại có sắc chuẩn y việc quanh năm hương khói, tế tự.
Trẫm nối nghiệp tổ tiên, trị vì thiên hạ, thân ở ngôi trên nhưng vẫn thường tưởng nhớ đến công lao giúp vua trị quốc, cứu tế muôn dân to lớn của thần. Nay trẫm gia tặng cho thần là: “Thục hạnh phương tư quyên tĩnh nhàn uyển chi thần”. Chuẩn y cho dân ba xã Triệu Xá, Triệu Xá Tiền, Hàm Hạ thuộc huyện Đông Sơn (tỉnh Thanh Hoá), chiểu theo lệ cũ, phụng thờ thần sự. Mong thần chiếu cố, tiếp tục gắng sức, bảo hộ thần dân, chớ phụ lòng trẫm.
Kính thay !
Ngày 13 tháng 12, năm thứ 3 niên hiệu Tự Đức (1850).
Tp.HCM ngày 27.3.2023
Thiều Ngọc Sơn
—————
*. Theo gia phả dòng họ Thiều ghi bằng chữ Hán: Đức ông Thiều Thốn vì có nhiều công lao lớn trong việc dẹp Chiêm Thành tao nhiễu nơi biên thùy; trấn áp nội tặc Ngô Bệ [Ngô Bệ – 吳陛 lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất đời Trần. Ông người làng Trà Hương, lộ Nam Sách Giang (nay thuộc huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương). Đầu thập niên 1340, xã hội thời Trần suy kém, nhân dân đói khổ, loạn lạc khắp nơi. Tháng 2 (âl) năm Thiệu Phong thứ 4 (1344), ông tụ họp dân phiêu tán, chiếm cứ vùng núi Yên Phụ (Hải Dương), đánh cướp tài sản địa chủ, thương nhân. Triều đình nhiều lần đem quân đánh dẹp nhưng không được. Đầu năm Đại Trị thứ 1 (1358), xảy ra hạn hán, dân tình đói khổ. Tháng 8 (âl) năm đó, Ngô Bệ lại tụ họp các đồng đảng, chiêu tập thêm dân nghèo, dựng cờ khởi nghĩa ở Yên Phụ, yết bảng “Chẩn cứu dân nghèo”, tự xưng Vương, đánh cướp thương nhân địa chủ, chống lại quan quân triều đình. Nghĩa quân phát triển mạnh, chiếm cứ cả một vùng rộng lớn từ Đông Triều đến Chí Linh, chống trả mãnh liệt quân triều đình.
Triều đình một mặt xuống chiếu khuyến khích nhà giàu bỏ thóc ra chẩn cấp dân nghèo; mặt khác sai quân tướng đi trấn áp. Tháng 3 (âl) năm Đại Trị thứ 3 (1360), triều đình phái đại quân đàn áp dữ dội, ông bị bắt đưa về kinh hành hình]… nên được nhà Trần gả công chúa tên là Trần Thị Ngọc Hai (陳氏玉? – trong gia phả Hai “?”, theo ND tìm hiểu thì đây là chữ Nôm), tên húy gọi là Ngọc Chiêu (玉昭).