Xuất bản vào 06:46:27 30/07/2016
Thiều gia giản giới: Bài viết dưới đây chỉ là vài nét xổ ngang về Đất & Người xã Đông Văn. Với kiến thức còn nông cạn nhưng Thiều lão gia tôi cũng cố gắng góp nhặt, hòng giúp mọi người có cái hiểu biết thêm về làng quê yêu dấu của mình. Tư liệu trong bài viết còn nhiều chỗ ngù ngờ, không có khả năng kiểm chứng, xác thực… Do vậy, chắc sẽ không tránh được chỗ sai sót, chỗ bất tường, rất mong các bậc cao nhân trong làng xã, con em chỉ bảo thêm hòng góp phần hoàn thiện bức tranh quê. Thiều gia xin chấp tay, nghiêng mình nghe chỉ bảo !.
Phần thứ nhất
I. Vị trí địa lý:
Thời nhà Nguyễn, xã Đông Văn có tên tục là Y Xá xã thuộc tổng Quảng Chiếu, phủ Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
Theo Wikipedia, Tổng Quảng Chiếu trong thời Bảo Đại trị vì gồm các xã sau: Hưng long xã (thị trấn Rừng Thông), Nam sơn xã (Đông Phú), Y xá xã (Đông Văn ngày nay), Long giang xã (Đông Tân), Hưng yên xã (Đông Hưng).
Quyền Lý trưởng cuối cùng (tính đến 1945) là “Cửu phẩm văn giai” cụ Thiều Văn Mãn tức cố Hương bạ Thiều Văn Mãn (Cửu phẩm văn giai là chức quan thấp nhất trong ngạch quan chế của triều đình nhà Nguyễn, tương đương với chức xã trưởng bây giờ).
Theo “hồi ký” của cha, ông nội tôi tức cụ Thiều Văn Mãn làm Hương bạ (người giữ văn kiện của làng, xã) từ năm 22 tuổi, về sau ông được vua Bảo Đại sắc phong “Cửu phẩm văn giai” kiêm quyền Lý trưởng. Cũng theo cha, ngay ông cũng không biết vì sao lúc bấy giờ xã lại không có… Lý trưởng ???.

Xã Đông Văn nằm ở phía nam huyện Đông Sơn. phía Đông giáp xã Đông Hưng và xã Đông Quang; phía Nam giáp xã Đông Quang và xã Đông Phú; phía Tây giáp xã Đồng Tiến (huyện Triệu Sơn) và xã Đông Yên; phía Bắc giáp xã Đông Thịnh.
Đông Văn có tổng diện tích: 6,57 km², dân số 4.902 người (số liệu điều tra năm 1999). Đến nay do đẻ nhiều dân số của cả xã chắc cũng kha khá chứ dứt khoát chẳng phải dạng vừa đâu 🙂.
Xã Đông Văn ngày nay gồm các làng: Văn Thịnh, Văn Bắc, Văn Trung, Văn Nam, Văn Đoài, Văn Thắng, Văn Châu (dân làng Văn Châu đều có gốc từ xã Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa đến khai hoang theo chính sách của huyện).
Tên xã có từ 1953 và được ghép từ chữ đầu tiên của tên huyện Đông Sơn và chữ đầu trong tên làng Văn Đoài thành xã Đông Văn. Trước đó, vào cuối năm 1945 xã được Chính quyền cách mạng đổi tên từ Y Xá xã thành xã Tràng An (gồm 2 xã Đông Yên và Y Xá nhập lại). Cuối năm 1948, một lần nữa xã được đổi tên từ Tràng An thành xã Đông Yên (vẫn là dân 2 xã), Chủ tịch xã Đông Yên thời kỳ này là ông Trần Đình Kền (ông Kền còn được gọi là ông Nhung Kền, người làng Y Xá tức người xóm Bắc hay Văn Bắc bây giờ).
II. Di tích lịch sử, văn hóa
Nghè Miếu Thôn thờ thần Bảo Triện hiển ứng.
Đền thờ Hoàng giáp Thiều Quy Linh.
Đền thờ Quan lớn Hoành Thọ Hầu.
Đền thờ, bia kí quan Bố Hạ.
Chùa báo ân.
III. Nguồn gốc Y Xá xã (Đông Văn)
Xã Y Xá hay Y Xá xã có từ hồi nào thì cho đến thời điểm hiện nay không ai có thể biết hoặc trả lời chính xác được. Chỉ biết trong gia phả của dòng tộc họ Thiều Việt Nam có ghi công thần triều Trần, Tướng quân Thiều Thốn (3/3/1326 – 8/8/1380 AL, người quê xã Thọ Sơn, tổng Thanh Khê, tục gọi là Kẻ Chiểu, nay là làng Nhuận Thạch, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) làm quan trải qua các đời Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, ông không chỉ có công rất lớn trong việc đánh dẹp Chiêm Thành, bình loạn tặc Ngô Bệ mà còn là “Phòng ngự sứ” giúp vua phòng thủ đất nước, giữ yên bờ cõi giúp nhân dân an cơ lập nghiệp, tạo đà phát triển tránh sự nhòm ngó của ngoại bang. Khi mất, được vua Trần Dụ Tông phong “Khai quốc công thần, Phụ quốc Thượng tướng công, kiêm Kim Ngô vệ Phò mã Đô úy Thượng trụ quốc”. Cũng theo gia phả, sinh thời Đức ông Thiều Thốn có 3 người vợ:

Lễ hội dâng hương tại đền thờ Đức Thiều Thốn (ngày 8/8/2015)
Người vợ thứ nhất là Công Chúa Trần Ngọc Hải hạ sinh được 3 con trai và 2 con gái. Người vợ thứ hai của là người làng Phù Lưu (xã Đông Tân bây giờ) và người vợ thứ ba quê tại Y Xá xã hạ sinh được một con trai tên: Thiều Kim Hoa.
Căn cứ theo gia phả của dòng tộc họ Thiều, ta có thể biết làng Y Xá nói riêng (sẽ nói rõ phía dưới) và người dân Y Xá xã nói chung đã có chí ít cũng phải 700 năm nay.
IV. Y Xá xưa
Theo tư liệu từ Cổng thông tin điện tử huyện Đông Sơn, xã Đông Văn xưa kia tức Y Xá xã (thời nhà Nguyễn) gồm các làng: Hón, Mườn, Miếu thôn, Y Xá, Văn Đoài và làng Thiều Sơn.
Như vậy, xã Đông Văn xưa gồm có 6 làng như liệt kê ở trên, vậy 6 làng đó là những làng nào, vị trí của các làng nằm ở đâu và có những danh lam thắng tích, công trình kiến trúc lịch sử, văn hóa gì ?
Nay, căn cứ theo lời truyền kể của các bậc tiền bối, cao niên trong làng, trong xã… họp với vài mẩu chuyện, cứ liệu trong các sách đã được coi qua, Thiều lão gia xin mạn phép gạch mấy gạch cốt làm rõ mấy điều như đã nói trên kia.
1. Hón hay còn gọi làng Hón là tên xưa, tên có từ thời phong kiến mà chính xác là từ thời Bảo Đại trở về trước. Sau cách mạng, làng được đổi tên kêu là xóm Vượng.
Nguyên trước kia làng nằm dưới cầu hón là cái cầu nằm phía dưới cầu máng một đoạn, giáp với đường tàu hỏa. Làng thuộc địa phận xã Đông Văn quản lý và cũng là địa danh cuối cùng của xã (bên kia đường tàu là địa phận đất Đông Quang), bởi thế mới có tục danh kêu… làng Hón.
Nhắc lại một đoạn lịch sử:
(1) Bắt đầu từ tháng 8.1964 đến ngày 30 tháng 12.1972, miền Bắc nước ta đã phải đối phó với chiến tranh trên không rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ, tức đế quốc Mỹ. Đầu tiên, để trả thù sự kiện Vịnh Bắc Bộ, đế quốc Mỹ đã mở chiến dịch “Mũi Tên Xuyên” (Pierce Arrow) vào ngày 5 tháng 8 năm 1964 cho máy bay của Hải quân Mỹ và không quân thực hiện các phi vụ ném bom, tấn công, đánh phá các mục tiêu dân sự và quân sự ở miền Bắc. Và 8 năm sau, sau 18 ngày đánh phá ác liệt (ta gọi là trận “Điện Biên Phủ trên không”), với tổn thất nặng nề, Tổng thống Mỹ Nixon phải chính thức ra lệnh chấm dứt ném bom, đánh phá Miền Bắc vào ngày 30 tháng 12 năm 1972 để tiến hành đàm phán chấm dứt chiến tranh.
Do làng Hón (xóm Vượng) nằm sát với đường ray tàu hỏa và như đã nói ở trên, làng vô tình nằm trong “mục tiêu” cần phải tiêu diệt nhằm cắt đứt tuyến huyết mạch của Bắc Việt chi viện cho chiến trường miền Nam. Với sự đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ, để bảo vệ dân, Chính quyền lên kế hoạch di dân vào sâu trong xã. Vì sự kiện này, làng được người dân trong xã suy tôn là làng Thắng, xóm Thắng tức cái xóm đếch biết sợ… là gì 🙂Hà… hà…
(2) Sau giải phóng 1954 và 1975, miền Bắc bấy giờ đang thực hiện chủ trương để tập trung đẩy mạnh sản xuất, nhanh chóng đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH (?!) Bởi thế, Chính quyền địa phương bèn tổ chức dồn dân để lấy đất sản xuất, do bấy giờ làng Hón vẫn còn một số gia đình rất lỳ, không sợ bom Mỹ, cố bám trụ trên mảnh đất làng nên nhân dịp này, chính quyền động viên nhân dân di cư vào trong “nội” xã ở với bà con cho có bè có bạn… Và vô tình, địa danh làng Hón bị xóa sổ trên bản đồ Google map của… xã Đông Văn.
2. Mườn tức làng Mườn. Vì sao có tên gọi là làng Mườn thì Thiều gia không rõ, nhưng theo các cụ cao niên làng trước chỉ vài nóc nhà và dân trong làng là lưu dân ở các địa phương khác đến khai khẩn đất hoang. Về sau, nhân thấy đất Đông Văn là nơi có thế “Long tiềm hổ phục” nên quyết định ở lại, sống, chiến đấu và gắn bó máu thịt cùng đồng bào Đông Văn.
Làng Mườn trước kia nằm trơ trọi ngoài cánh đồng, làng nằm ngay chỗ làng Son (Đông Hưng), cầu máng đi vào. Sau vì thấy tuy là “lưu dân” (dân lưu lạc) nhưng bản tính hiền lành, làm ăn chăm chỉ… lại rất nhân văn trong cách hành xử hằng ngày nên đồng bào, đồng chí trong xã bèn gọi xóm nớ là… xóm Văn.
Theo Thiều gia, danh từ “Mườn” có lẽ là từ đọc trại của người địa phương dành chỉ người Mường, Mán chăng ???
3. Miếu Thôn (tức xóm Miếu hay còn kêu làng Miểu. Miếu thôn xưa gồm có 3 xóm hợp thành là xóm Miếu, xóm Tra và xóm Mòi.
Nguyên trước đây, tại làng còn có một cái Nghè thờ thần Bảo Triện hiển ứng (nghè nằm trên đất chỗ nhà ông Màu, Quang, Hậu…).
Ngoài nghè thờ thần Bảo triện hiển ứng, xưa làng còn có một cái đình rất to gọi là đình làng Miểu, vị trí đình được xác định ở ngay chỗ nhà ông Hoan, con ông Tiến Trang ở bây giờ. Làng trước cũng có cái giếng tròn, rất to, sâu, quanh năm nước trong vắt gọi là giếng Mòi. Thành giếng được xây bằng gạch, chung quanh lát gạch tàu rất đẹp và sạch. Tiếc thay, sau giải phóng, giống như một số đình, chùa khác, nghè Miểu và giếng cũng chịu chung số phận bị chính quyền bằng mọi cách… tiêu diệt. Mục đích của việc làm sai lầm thời bấy giờ là nhằm phá bỏ tàn tích mê tín dị đoan, thực dân phong kiến.

4. Y Xá, làng Y Xá nay là thôn Văn Bắc. Thời phong kiến làng rất rộng lớn, ngoài thôn Văn Bắc bây giờ, làng còn bao gồm cả xóm Trung, xóm Quang, xóm Việt và cả xóm môi* (tức xóm Nam bây giờ. Cái tên xóm Môi có được là do bấy giờ có một số người trong làng chuyển ra ở cái thẻo đất có hình như cái môi múc canh và vì thế mới chết danh là xóm Môi)…
Theo “Tên làng xã Thanh Hoá – tập II”, sách do Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá phát hành và theo ghi chép trong gia phả dòng tộc họ Thiều VN, gia phả họ Thiều Y Xá, tại làng Y Xá bấy giờ có:
– Đền thờ “Mạ Tặc Thượng Đẳng Thần – Thượng Thư Bộ Lại Thiều Quy Linh (1479-1527)”. Trước đền nằm ở xóm Quang (xóm Quang xưa còn được kêu là xóm Cách), trên đường vào thôn Văn Đoài.
– Nhà thờ Lê triều Võ Huân Tướng Công – Lực Sĩ Hiệu Úy Thiều Văn Hoành (tục gọi Quan lớn Hầu), nhà thờ này trước kia nằm ở xóm Tiến (xem giải thích phía dưới), ngay chỗ đất nhà bà Đan, ông Lương Giềng bây giờ.
– Cũng theo sách trên, tại làng Y Xá còn có đền thờ, bia kí của quan Bố Hạ (chưa xác định được chính xác nằm ở chỗ nào và không biết có phải là chỗ Miểu tiên hay không ? Miểu tiên được xác định nằm gần chỗ nhà bà Hạnh Xèng, chỗ chùa Báo Ân nhìn ra).

Ngoài 3 thắng tích lịch sử kể trên, làng còn có một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân tự (đất và ao chùa hiện là chỗ nhà ông luyện khánh ở bây giờ); 01 nhà “văn chỉ” (địa chỉ của văn chỉ hiện là chỗ ông Quyền Thảo ở bây giờ), là nơi tôn vinh những người con học hành đỗ đạt, vinh hiển của làng; 01 đình gọi là Đình Đông, đình Đông là nơi hội họp của dân làng, đình xưa ở ngay chỗ ngõ đi vào nhà ông An Thái, nhà bà Cường (xóm Việt) bây giờ; 02 giếng làng, một giếng đất nằm trước ngõ nhà ông Thanh Sợi (cạnh ao lấp) và một nằm trước Đình Đông, ngay chỗ nhà ông Thành Lức (ông Thành con chứ không phải ông Thành cha) ở bây giờ.
Có rất ít người biết xưa đất làng Y Xá còn có một cái miên rất dài, đoạn cuối cái miên gần chỗ sông cụt có 1 cây cầu bằng đá được làm bằng những tấm đá xanh rất to, vững chắc. Ngay đầu cầu có 2 hòn bia rất lớn (1 hòn vuông to cỡ 3 người ôm và 1 hòn dẹp cao cỡ 1,5m X 1m), chữ trên văn bia là chữ Hán nội dung chủ yếu nói nguyên do bắc cầu, người cung tiến (miên và đoạn sông cụt này hiện do ông Trần Đình Bích đấu thầu nuôi cá). Theo các cụ, trước kia do không có cầu để ra tỉnh lỵ, qua Thiều Sơn (xóm Thịnh) nên cụ Hộ Đá (tức bố ông Kền, chồng của bà Sừ và là ông nội của cô Nhung, chú Lợi, bà Huê thuộc thôn Văn Bắc) đã cống tiến cho làng cây cầu này.
Xin nói thêm, sau thời cải cách, xóm Bắc từng có một thời chia làm 2 xóm gọi là xóm Bắc và xóm Tiến. Gianh giới của 2 xóm được tính từ nhà ông Sáng Seo, bà Tâm Cẩm, Vinh Đai,. Vinh Thắng, ông Lụa Chạnh… là thuộc xóm Tiến. Bên này, xóm Bắc là nhà ông Sử Dụng, ông Hà Hòa, bà cố Huấn (nhà ông Thê Tạu), ông Minh Nhờ (ông Minh Nhờ trước ở ngay dẻo đất gọi là cổ ngựa phía sau nhà ông Thê Tạu)… là xóm Bắc. Trẻ con lúc bấy giờ hễ có chuyện xích mích là hát câu “Xóm Bắc bắc cầu cho xóm Tiến tiến lên” ý là xóm Tiến vai trên (soái ca)… là vì thế.
5. Làng Văn Đoài hay còn gọi làng Đoài. Sau cải cách làng Đoài có lúc được kêu là làng Liệu, xóm Đông…
Như đã nói trên kia, xã Đông Văn nằm ở phía Nam huyện Đông Sơn. phía Đông giáp xã Đông Hưng và xã Đông Quang; phía Nam giáp xã Đông Quang và xã Đông Phú; phía Tây giáp xã Đồng Tiến (huyện Triệu Sơn) và xã Đông Yên; phía Bắc giáp xã Đông Thịnh.
Nếu nhìn toàn cục ta có thể thấy xã ta giống như biểu đồ của âm dương bát quái. Lấy xóm Trung làm trung tâm ta thấy về phía Bắc có thôn Văn Bắc (quẻ Khảm), phía Nam thuộc quẻ Ly thì có Văn Nam và làng Đoài nằm ở phía Tây thuộc phương vị quẻ Đoài. Thiển nghĩ xưa các cụ đặt tên kêu làng Đoài là đúng vì thực ra xóm nằm phía Tây Bắc của xã mà quẻ “đoài” (trong bát quái thuộc Kim, phương vị Tây – Bắc) nhưng không hiểu sao sau giải phóng lại kêu là làng Liệu, xóm Đông (thấy chả có liên quan gì đến phương vị 🙂 ). Phải chăng đây cũng là cách biểu thị của sự canh tân ????.
Lưu ý : Do ít vào Đoài thôn nên không có nhiều thông tin về làng, rất mong các vị cao minh giúp sức chắp vá cho bức tranh của làng Đoài được hoàn thiện !
6. Thiều Sơn tức làng Thiều, vì làng có núi thiều nên gọi là Thiều sơn.
Cũng rất thắc mắc không hiểu vì sao làng đang có cái tên rất kêu, rất mỹ miều như thế lại bị chuyển đổi kêu là xóm Thịnh. Và cũng chả nhớ cái tên xóm Thịnh ấy có tự khi nào ? Chỉ biết, xưa kia muốn qua làng phải đi qua cây cầu đá được bắc qua khúc một sông gọi là sông cụt, bên này sông có 2 cái bia rất to nên cũng gọi là cầu 2 bia (xem đoạn giải thích phía trên, làng Y Xá).

Không biết xưa làng có đình hay không nhưng lúc trước, tôi biết làng cũng có một cái giếng rất to ở trên đường đi ra làng Son, bên cạnh có cây đa rất thiêng.
Tương truyền xưa có chàng trai làng Thiều Sơn lấy người con gái làng Đoàn Kết (Đông Thịnh) tên là KỶ. Một đêm trăng, khi đi gánh nước về ăn, nhân vì thấy cảnh sắc thanh bình nên nàng hứng chí ngồi lên thành giếng và thò một chân xuống khoát nước … Sáng ra dân làng hết sức kinh sợ khi thấy nàng chết trong tư thế ngồi trên thành giếng. Cô Kỷ chết, biến thành Quỷ rất linh thiêng, nghe nói bấy giờ ai muốn đi lên tỉnh (xưa kia người dân xã ta muốn lên tỉnh, lên huyện chỉ có 2 đường ấy là đường đi qua Mục Nhuận và đường đi qua Thiều Sơn) khi qua cái giếng làng muốn an toàn phải xuống ngựa, bỏ mũ, gập mình lạy cô Kỷ thì mới được qua nhược không thế, về sẽ bị đau bụng, ói mửa… đủ trò.

Tác giả Thiều Ngọc Sơn
Xưa, lúc nhỏ tôi vẫn thường nghe nhiều người kể rằng cứ chiều chiều, cô Kỷ dẫn một đàn ma hóa thành lũ trẻ nít đi sang các làng lân cận, nhất là những làng không có Thành Hoàng rồi tổ chức xin lửa nhà này, đem đốt… nhà khác (làng Mườn xưa còn được kêu là xóm Cháy cũng là vì tích này mà ra). Nhiều người đi bộ đội về còn kể lắm bận, khi về phép thấy cô Kỷ lúc biến thành một đàn lợn con, khi biến thành đàn đom đóm bay rào rào đuổi theo… khiến các chú bộ đội chạy chối chết (chuyện này là tôi được nghe chính ông Thiều Văn Thế, người thôn Văn Bắc bây giờ kể)… Và cúng do cô Kỷ tác oai tác quái quá khiến các làng vô cùng hoảng sợ, nhiều người quả quyết là người xóm Cháy phải thuê thầy phù thủy về yểm, đấu phép với cô Kỷ (?!) Theo nhiều cụ cao niên, có nhiều thầy phù thủy về đấu phép với cô Kỷ bị thua phải bỏ chạy ?! Thậm chí có thầy còn bị cô vật chết… Nghe thế biết thế chứ riêng chuyện này (chuyện mời phù thủy đấu phép), tôi không tin lắm. Bà ngoại tôi nói “Ngày xưa ma nhiều lắm, từ độ Mỹ bỏ bom ma sợ bom, sợ tiếng súng nên trốn hết lên núi” 🙂 Chả biết đúng hay không nhưng quả thật, có lần khi đi lính tôi được cấp trên cho về phép, từ ga Thanh Hóa tôi đi bộ theo đường ray xe hỏa về nhà, gặp lúc tối trời nghĩ tới chuyện xưa… tôi không dám đi qua ngả xóm Thịnh mà phải bộ hành theo lối cầu máng, qua làng Miểu để về nhà 🙂 Biết đi như thế là mua đường, là ngu dốt nhưng cũng cứ đi 🙂 🙂 🙂
Mời đón xem phần thứ hai
I. Tính cách con người Đông Văn
Tp. HCM, ngày 29.7.2016
Thiều Ngọc Sơn
<><><><><><>
Tư liệu sử dụng trong bài viết: Wikipedia (Xã Đông Văn, Đông Sơn); Cổng thông tin điện tử huyện Đông Sơn; Hồi ký của cha tôi ông Thiều Ngọc Dụng;… và sự góp sức của các ông Thiều Công Thành, Ha Tien, bà Trần Thị Trường, ông Thiều Ngọc Lựa… và một số diễn viên khác 🙂